 |
RadioWeb Y Dược Ngày Nay
06-04-2009 -
"Talking E-Newsletter"
Bài này đã được
Bích Vân đọc trong Y Dược Ngày Nay RadioWeb – Xin mời nghe RadioWeb đặc biệt trong Y Dược Ngày Nay.
Hôm nay là 6 tháng Tư, YDNN chào mừng quý vị thính giả.
Trong tháng này chúng tôi xin giới thịệu mục:
1) Vườn Hoa Âm Nhạc với bài “Để
mình mãi yêu nhau” của Khanh Phương tức Bác sĩ Trần văn Khang,
2) Phát Thanh Y Học:
Giáo Dục Giới
Tính của Bác sĩ Nguyễn Văn Đích
3) Hình Ảnh Y Học Mỗi Tháng của
Bác sĩ Nguyễn Nguyên
Xin bấm Chuột vào hình
để phóng lớn và xem giải đáp
Để mở đầu xin mời quý vị nghe bài viết về vai trò của
người y tá trong hệ thống y tế dưới đầu đề “Một nghề cao quý” của Bs
Nguyễn văn Đích.
Có người thuật lại với tôi rằng giáo sư Tôn thất Tùng đã nói “Tôi có
3 người thầy: người thứ nhất là thầy dậy ở nhà trường, người thứ hai
là bệnh nhân, người thứ ba là người y tá”. Tôi có thể đã không nhắc
lại đúng lời của giáo sư Tôn thất Tùng nhưng ý của ông là tôn vinh người
y tá. Chữ “y tá” có nghĩa là người phụ giúp thầy thuốc, chữ “infirmière”
(nữ) hay infirmier (nam) là người giúp người yếu kém, chữ “nurse” nguyên
thủy là cho bú mớm, mở rộng ra có nghĩa là săn sóc nuôi dưỡng, chữ “điều
dưỡng” bao hàm ý nghĩa điều trị và săn sóc nuôi dưỡng sát với nhiệm
vụ của người y tá hơn.
Khi tôi mới vào học y khoa, một buổi chiều đứng
trong trại bệnh mênh mông và lạnh lẽo nhìn một cô y tá trẻ, gọn gàng
trong bộ đồng phục trắng, đến từng giường bệnh, đo mạch áp huyết hay
phát thuốc, truyền dịch, tôi thấy cô hiện ra như một nguồn an ủi, đem
lại sự tin tưởng cho những người còn chưa biết số mệnh của mình sẽ như
thế nào. Trong những năm 70-80, tôi phụ trách khoa “săn sóc đặc biệt”
tập trung những người thập tử nhất sinh nên sự săn sóc là toàn diện
từ giúp vệ sinh về tiêu tiểu, làm vệ sinh cơ thể đến cho ăn uống, điều
trị cấp cứu, sử dụng các dụng cụ, theo dõi các dấu sinh tồn như mạch
áp huyết, nhịp thở nhịp tim.... Trong hoàn cảnh khó khăn của thời đó,
phải ăn độn khoai sắn, các cô y tá bị thiếu máu, mặt xanh lướt nhưng
vẫn thức đêm làm việc. Thức khuya mới biết đêm dài.... Chỉ có người
mẹ thay tã làm vệ sinh cho con hoặc cá nhân tự làm vệ sinh cho mình
mới không ngại ngùng, người y tá làm vệ sinh cơ thể khi bài tiết cho
mọi người dù nam hay nữ thuộc mọi lứa tuổi mà không tỏ ra khó chịu.
Ở Mỹ y tá có bằng đại học. Họ có thể làm tại bệnh
viện, phòng khám, hoặc làm kỹ thuật viên về gây mê, hô hấp, X quang,
siêu âm, vật lý trị liệu hoặc làm y tá tại học đường, xí nghiệp, hoặc
săn sóc bệnh nhân tại nhà. Nhiệm vụ của họ là giữ gìn sức khỏe cho mọi
người từ trẻ em lành mạnh đến phụ nữ có thai hay người già đau yếu,
săn sóc cho người không tự săn sóc được, phục hồi chức năng cho người
khuyết tật, làm dịu cái đau và giảm sự lo buồn của người bệnh mãn tính
lúc cuối đời. Vì họ gần gũi bệnh nhân nên bác sĩ bao giờ cũng hỏi y
tá về tình hình bệnh nhân trước khi khám bệnh. Người ta đánh giá khả
năng phục vụ của ngành y tế bằng cách tính tỉ lệ bác sĩ và y tá phục
vụ 10.000 dân. Theo thống kê của Y tế Thế giới 2008 tỉ lệ y tá/10.000
dân ở Việt nam là 8, Thái lan 28, Phi luật tân 61, Indonesia 8, Trung
hoa 10, Nhật 95, Mỹ 94, tỉ lệ bác sĩ/10.000 dân ở Việt nam 6, Thái lan
4, Phi luật tân 12, Indonesia 1, Trung hoa 14, Nhật 21, Mỹ 26. Trong
khi tỉ lệ bác sĩ/10.000 dân ở Việt nam tương đương với các nước cùng
trình độ phát triển, tỉ lệ y tá/10.000 dân lại rất thấp. Thiếu y tá
hạn chế hiệu năng của bác sĩ và giảm sự phục vụ bệnh nhân. Tỉ số YT/BS
ở Viêt nam năm 2003 quá thấp:1.1 so với 7.6 ở Thái lan.
Tại hội nghị nhân lực y tế ngày 12-6-2008 ở Hà
nội, các địa phương đều báo cáo tình trạng thiếu hụt cán bộ y tế nhất
là ở Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Tây Bắc. Hội nghị nhìn nhận rằng
đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu nhưng nêu ra rằng đào tạo cần thời gian
để đảm bảo chất lượng. Tuy bàn về kế họach tăng nhân lực y tế nhưng
hội nghị không đề cập đến sự chênh lệch quá lớn giữa tỉ số YT/BS. Tăng
số lượng y tá trung cấp và cao cấp, đãi ngộ xứng đáng để giữ họ ở lại
trong nghề, dù trong lãnh vực công hay trong lãnh vực tư là một trong
các biện pháp để giảm bớt sự thiếu hụt bằng cách tăng hiệu năng của
bác sĩ đồng thời tăng chất lượng phục vụ bệnh nhân và bảo vệ sức khỏe
của đồng bào.
Bác sĩ Nguyễn Văn Đích
Sau đây chúng tôi xin điểm qua những bài đã đăng trong
tháng Ba.
Trong mục Tin Mới Y học, Bs Nguyễn văn
Thịnh cho nhiều thông tin bổ ích như liên hệ giữa điều trị bằng kích
thích tố nữ và ung thư vú, thủ thuật thay van tim qua da, điều trị ngoại
khoa bệnh động kinh và nhiều tin đáng chú ý khác; Bs Nguyễn xuân Ngãi
báo cáo về bệnh tim mạch của người Việt nam ở Hoa kỳ; Bs Nguyễn tài
Mai nêu vấn đề thiếu sinh tố D; Ds Lê văn Nhân cho biết hydrogen sulfide
có thể có tác dụng cương dương.
Trong mục Y học Thường thức,
Bs Nguyễn văn Đức viết về ho kéo dài; Bs Trần mạnh Ngô nhắc những biện
pháp phòng ngừa khi đi du lịch: Bs Vũ văn Dzi viết về bệnh Lyme; Bs
Nguyễn Ý Đức viết về Tiêu chảy và nôn mửa, về ảnh hưởng xa của bệnh
răng miệng và về những biện pháp khám ngừa ung thư ruột già.
Trong mục Y Dược khoa Thực hành,
Bs Nguyễn văn Thịnh viết về viêm gan cấp do thuốc, về điều trị lọan
nhịp tim về hen phế quản; Bs Thái minh Trung viết một bài rất đáng chú
ý về cách đối phó khi thân nhân tự tử; Ds Lê văn Nhân bàn về tác dụng
của thuốc chẹn bêta và về điều trị cao áp huyết ở người rất lớn tuổi.
Trong mục Lâm sàng,
Bs Nguyễn văn Đích báo về theo dõi diều trị suy tim bằng lâm sàng so
vói bằng BNP; Bs Nguyễn tài Mai đề cập đến hội chứng Trousseau, ung
thư bạch cầu lymphô mãn, bàn về đột biến Ras và hướng điều trị ung thư
dựa vào sinh học phân tử, ung thư phổi tế bào nhỏ; Ds Lê văn Nhân báo
về những yếu tố nguy cơ mới cho bệnh thận giai đoạn cuối.
Trong mục Dược phẩm,
Ds Lê văn Nhân và Trịnh Nguyễn Đàm Giang viết về điều trị rỗng xương;
Ds Lê văn Nhân hướng dẫn điều trị tiểu đường, khuyến cáo bỏ propoxyphen,
lưu ý về raloxyfen làm tăng nguy cơ huyết khối và đột quỵ.
Trong mục Khảo cứu,
Bs Nguyễn đình Bá và Roarke MC tường trình một trường hợp ung thư tuyến
mang tai được truy tìm và theo dõi điều trị bằng PET scan và CT scan;
Bs Nguyễn thanh Trà tường trình một trường hợp chảy máu mũi do đỉa và
bàn về ứng dụng điều trị của hirudine.
Trong mục đọc Báo y khoa,
Bs Nguyễn tài Mai điểm các bài báo về sự liên hệ giữa tác dụng phụ và
hiệu quả của điều trị ung thư vú bằng arimidex và tamoxifen riêng rẽ
hay kết hợp, về hóa trị rivacizumabvà cetuximab trong ung thư trực tràng-đại
tràng di căn, về công nghệ di truyền sản xuất thuốc chống động trong
sữa dê, về một số bài trong báo New England Journal of Medicine
ngày 5/3, về dược khoa di thể, về một trường hợp bệnh lý biện luận tại
bệnh vịện đa khoa Massachusett; Ds Lê văn Nhân điểm báo về ung thư thực
quản ở bệnh nhân uống biposphonat và về liên hệ chức năng thận với nguy
cơ bệnh tim ở người lớn tuổi.
Trong mục Y Sinh học,
Bs Trần mạnh Ngô báo về kỹ thuật quay phim để theo dõi sự sinh sản của
tế bào máu, về một trường hợp u não phát xuất từ điều trị bằng tế bào
gốc thần kinh; Ts Nguyễn đức Thái bàn về học thuyết Darwin.
Trong mục Hỏi Đáp Y học,
BS Đặng văn Việt trả lời câu hỏi của một bệnh nhân đã dùng nhiều thuốc
tra mắt có steroid; Bs Trần mạnh Ngô trả lời về nhiễm trùng đường tiểu.
Trong mục Tham khảo
có các bài của Ds Trịnh Nguyễn Đàm Giang về biểu tượng của ngành dược;
Bs Thú y Nguyễn thượng Chánh về cá saumon, thịt trâu và về cách sống
trong tuổi già; Ds Trần việt Hưng về giá trị dinh dưỡng của trai hay
vẹm; Ds Dương quang Nhàn về vấn đề xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở
Việt nam.
Ngoài ra còn cáo các mục thường xuyên của Bs Nguyễn Nguyên gồm đố
vui để học, từ điển Y họcAnh Việt Pháp, International Classification
of Diseases và dịch thuật từ Y khoa Anh-Việt-Pháp.
Xin cảm ơn quý thính giả đã lắng nghe RadioWeb Y Dược
Ngày Nay và xin hẹn gặp lại quý vị tháng sau.
>>>back>>> |
 |