 |
Y
SINH HỌC
Tác Dụng Phóng Xạ vào Sinh Vật Học
Bs Trần Mạnh Ngô
Trước hết là tác dụng phóng xạ vào tế bào. Cơ nguyên tác
dụng phóng xạ làm hư hại mô sinh học hay bất cứ vật liệu gì là do tác
dụng phóng xạ vào nguyên tử. Tác dụng phóng xạ vào mô tế bào trong cơ
thể con người gây ra một năng lượng có thể di chuyển được những electrons
ra khỏi nguyên tử trong mô tế bào. Phóng xạ bắn electron bật ra khỏi vị
trí dính 2 nguyên tử, đã hủy hoại phân tử, do đó làm hư hại mô tế bào.
Tóm tắt tác dụng phóng xạ vào mô tế bào do nhiều
cách:
1) phóng xạ không đủ sức làm hư hại tế bào,
2) Tế bào bị hư hại lúc đầu nhưng sau đó có thể tự sửa chữa lành mạnh,
giống như hàng triệu tế bào bị chết trong cơ thể mỗi ngày và được thay
thế bằng những tế bào mới,
3) Tế bào bị phóng xạ, tự sửa chữa được nhưng không hoạt động được bình
thường như trước,
4) Phóng xạ nặng làm tế bào tử vong.
Độ nhậy cảm phóng xạ của mỗi tế bào có thể thay đổi khác nhau, giả tỉ
khi tế bào sinh sản nhanh có thể bị tác dụng phóng xạ liều lượng nhỏ hơn
hơn tế bào sinh sản chậm, phải cần liều lượng lớn hơn. Tế bào trong tủy
xương bị phóng xạ dễ dàng với một liều độ tác dụng nhỏ.
Có 2 trường hợp: tác dụng phóng xạ cấp tính và tác dụng phóng xạ kinh
niên.
Khi liều lượng phóng xạ từ 10 rads trở lên tác dụng vào toàn cơ thể trong
vài ngày gây triệu chứng bệnh phóng xạ. Chẳng hạn liều phóng xạ trên 100
rads (cho toàn cơ thể) có thể phát hiện những triệu chứng nhiễm xạ. Khi
liều phóng xạ cao hơn 450 rads có thể gây tử vong (50%) trong 60 ngày
nếu không được điều trị.
Liều phóng xạ trên 100rads làm hư hại tế bào tủy xương, tế bào trong lá
lách và mô bạch huyết. Bệnh nhân thấy mệt mỏi, bị chảy máu nội mô, nhiễm
trùng và nóng sốt.
Liều lượng trên 1,000 rads làm hư hại tế bào ruột và bao tử, gây triệu
chứng ói mửa, tiêu chảy, mất nước trong cơ thể, làm mất cân bằng chất
điện phân (electrolytes), không hấp thụ được đồ ăn, lở loét bộ phận tiêu
hóa.
Khi liều phóng xạ tăng cao hơn nữa, trên 5,000 rads, có thể làm hư hại
tế bào thần kinh, gây ra những triệu chứng như mất cân bằng thần kinh
phối hợp cơ thể, đầu óc mất minh mẫn, hôn mê, kinh phong, bị shock, v…v…
Một số chuyên gia cho rằng không phải do tác dụng trực tiếp phóng xạ nhưng
là do những biến chứng do chảy máu bên trong cơ thể, nước và áp xuất tăng
cao trong não.
Nhiễm phóng xạ kinh niên, tức là mỗi ngày liên tục bị
nhiễm xạ liều lượng nhỏ và cơ thể. Bệnh phát sinh nơi làm việc bị nhiễm
xạ. Nguy cơ nhiễm xạ gây ung thư phỏng đoán theo xác suất. Đơn vị phóng
xạ gây nguy cơ được đặt là “rem”. Kết quả ước đoán ung thư do phóng xạ
dựa theo những nghiên cứu nạn nhân bị nhiểm phóng xạ còn sống sót sau
khi bị bom nguyên tử ở bên Nhật hoặc sau khi dùng những phương pháp áp
dụng đồng vị phóng xạ. Ung thư do nhiễm xạ cao hơn 50,000 mrem bao gồm:
ung thư bạch cầu, ung thư vú, bọng đái, ruột già, gan, phổi, thực quản,
buồng trứng, ung thư tủy (multiple myeloma), ung thư bao tử.
Sau vụ nổ lò nguyên tử Chernobyl năm 1986, thì có khoảng 134 nhân viên
làm việc trong lò nguyên tử và các chuyên viên chữa lửa, bị nhiễm độ phóng
xạ cao, từ 80,000 rem tới. 1,600,000 rems (từ 800 tới 16,000 mSv), bị
bệnh nhiễm phóng xạ cấp tính. Trong số nạn nhân kể trên, 28 người đã chết
trong vòng 3 tháng. Có 2 người chết trong mấy ngày đầu vì vừa bị thương
tích khi chữa lửa, vì bị nhiễm xạ.
Theo tài liệu Bộ Y tế Hoa Kỳ thì có liên hệ giữa phóng xạ và ung thư nhiếp
hộ tuyến, ung thư mũi, xoang mũi, ung thư cổ họng và thanh quản, và ung
thư tuyến tụy tạng.
Hiện giờ cũng chưa xác định được rõ ràng khi lượng phóng xạ ở mức độ thấp
dưới 10,000 mrem (100mSv). Những người sống trong những môi trường có
độ phóng xạ cao hơn 1,000 mrem (10mSv) mỗi năm, như ở Denver, Colorado,
cũng chưa thấy liên hệ tới ung thư.
Nhiễm phóng xạ ảnh hưởng di truyền, có thể từ đời này
qua đời khác. Phóng xạ tác dụng vào tế bào sinh sản. Tuy nhiên nguy cơ
di truyền nhiễm phóng xạ tương đối nhẹ. Chưa có dữ kiện rõ ràng tác dụng
phóng xạ vào di truyền đối vơí con cái nạn nhân bị bom nguyên tử ở Hiroshima
và Nagasaki bên Nhật.
Ngoài ra phải kể tác dụng phóng xạ vào phôi thai
trước khi sinh, như bào thai phát triển chậm, đầu nhỏ, não nhỏ, tâm thần
chậm phát triển, trẻ bị ung thư.
Tham Khảo:
1) http://www.jlab.org/div_dept/train/rad_guide/effects.html
2) International Series of Monographs on Pure and Applied Biology, Modern
trends in Physiological Sciences (second edition).
3) U.S. NCR, http://www.nrc.gov/reading-rm/doc-collections/fact-sheets/bio-effects-radiation.html
Bác sĩ Trần Mạnh Ngô
Xin tùy nghi sử dụng và phổ biến. Xin ghi rõ nguồn: www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |