![]() |
![]() |
|
| |
||
| |
||
| |
Y
SINH HỌC Sàng Lọc Đột Biến Di Thể EGFR trong bệnh Ung Thư Phổi Bác sĩ Trần Mạnh Ngô thông tin Trong báo New Eng J Med số 361: 958, 2009, Bs Rafael Rossel cùng các đồng nghiệp phổ biến kết quả sàng lọc đột biến di thể EGFR (Epithelial Growth Factor Receptor) cho 2105 bệnh nhân ung thư phổi (non-small-cell) trong tình trạng bệnh nặng: ở giai đoạn ung thư phổi loại 3B đã có nước trong màng phổi, hay ung thư phổi giai đoạn 4. Di thể EGFR thể hiện độ nhậy cảm của những thuốc trị ung thư kìm hãm phân hoá tố tyrosine kinases. Kết quả cho thấy khoảng 16.6% bệnh nhân ung thư phổi (non-small-cell) có đột biến di thể EGFR. Đột biến di thể EGFR cao hơn ở bệnh nhân phụ nữ ( 69.7%), ở bệnh nhân không bao giờ hút thuốc lá, và ở bệnh nhân có loại ung thư tuyến (adenocarcinoma). Đột biến di thể EGFR bị thuốc Exon 19 tiêu hủy (62.2%) và bị thuốc L858R tiêu hủy (37.8%). Sàng lọc đột biến di thể EGRF có thể giúp quyết định điều trị ung thư phổi (non-small-cell). Bệnh nhân ung thư phổi có đột biến EGFR được điều trị bằng thuốc Erlotinib sống lâu hơn trước khi bệnh tái phát, và sống lâu hơn gấp 2 lần bệnh nhân không có đột biến EGFR và không chữa bằng thuốc Erlotinib. Trong việc điều trị ung thư, nhất là khi dùng thuốc mơí, cho thấy một số bệnh nhân có thể hợp vơí thuốc trị ung thư nào đó hơn những bệnh nhân khác. Bởi vậy, bác sĩ muốn tìm kiếm chọn lựa bệnh nhân ung thư hợp vơí những thuốc định dùng để điều trị ung thư hữu hiệu hơn. EGFR là một thụ thể nằm ngoài mặt tế bào. Thể hiện quá
mức đột biến di thể EGFR thường thấy ở một số bệnh bị ung thư phổi hay
ung thư nguyên bào xốp (glioblastoma). Sàng lọc đột biến di thể EGFR thường
dùng để tiên liệu điều trị ung như như thuốc Gefitinib hay thuốc Erlotinib
trị ung thư phổi và thuốc Cetixumab trị ung thư ruột già. Cetixumab và
panotumimab là những kháng thể đơn dòng. Gefitinib, Erlotinib và Lapatinib
là những phân tử nhỏ kìm hãm kinase. |
|
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
![]() |
||