![]() |
![]() |
|
| |
||
| |
||
| |
Y
SINH HỌC Biến Chứng Não Trong Bệnh Sốt Rét Bệnh
sốt rét nặng có nhiều biến chứng như thiếu máu vì hồng huyết cầu bị tiêu
hủy, sắc tố hemoglobin trong nước tiểu (hemoglobinuria), phổi thũng nước
và nghẹt thở, máu không đông được và tiểu cầu thuyên giảm (thrombocytopenia),
suy tim mạch, lên cơn “shock”, suy thận, máu đầy ký sinh trùng, đường
hạ thấp trong máu, máu bị acid hóa (acidosis), đường xuống thấp, và đặc
biệt sốt rét biến chứng vào não (cerebral malaria). - Một giả thuyết cho rằng sốt rét biến chứng não là do phản ứng tương tác giữa bạch đản - (protein) ngoài hồng huyết cầu bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét P. Falciparum và phối tử (ligand) tế bào nội mô. Thí dụ như ICAM-1 hay E-secretin. Do đó làm giảm luồng máu chảy trong vi ti huyết quản và thiếu dưỡng khí. - Theo một giả thuyết khác thì cho rằng độc tố ký sinh trùng sốt rét kích thích đại thực bào (macrophages) sinh ra những chất cytokines như TNF-alpha hay những cytokines khác như IL-1. Cytokines sinh sản nitric oxide xuyên qua biến giới giữa não và mach máu não thay đổi chạm thần kinh não, gây bất tỉnh, giống như trường hợp đánh thuốc mê, hay uống nhiều rượu (http://www.brown.edu/Courses/Bio_160/Projects1999/malaria/cermal.html). - Một khảo cứu do Trung Tâm Nghiên Cứu tại Pháp (Centre
National de la Recherche Scientifique, CNRS) và Viện Pasteur, Paris nghiên
cứu cơ nguyên gây bệnh não do sốt rét, tức là tìm hiểu bệnh lý liên hệ
giữa mô thần kinh và mạch máu, bằng cách dùng tổng hợp 2 kỹ thuật: chụp
hình não bằng phương pháp cộng hưởng từ trường (MRI) và phổ quang cộng
hưởng từ trường (MRS, magnetic resonance spectroscopy). MRI giúp phân
tích bệnh lý cơ thể học và sinh lý học. Phương pháp thứ 2 phân tích những
thay đổi chất chuyển hóa trong não. Thử nghiệm được thử trên chuột bị
nhiễm ký sinh trùng sốt rét P. Falciparum. - Trong một nghiên cứu khác nữa cũng do các chuyên viên
khảo cứu CNRS nước Pháp, Viện Pasteur và các y sĩ tại bệnh viện Gabon
thực hiện. Mục đích của cuộc nghiên cứu là muốn tìm hiểu vai trò của tự
kháng thể (autoantibodies) và những phân tử trong não. Lấy máu từ 350
bệnh nhân nhi đồng, tuổi từ 6 tháng tới 5 tuổi. Bệnh nhân chia thành 5
nhóm: nhóm thứ nhất, không có ký sinh trùng sốt rét trong máu; nhóm thứ
2 bệnh nhân không có triệu chứng sốt rét, nhóm thứ 3 bệnh nhân bị sốt
rét nhẹ, nhóm thứ 4 bệnh nhân bị sốt rét nặng (thiếu máu) nhưng chưa có
biến chứng não, và nhóm thứ 5 bệnh nhân bị sốt rét có biến chứng não.
References: Trần Mạnh Ngô, M.D |
|
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
![]() |
||