Y SINH HỌC 

Thông Tin Y Học Tháng 10 (Phần 2)
Dược sĩ Lê-văn-Nhân

TIN VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Người nhiễm HIV bị hỏng chương trình tự hủy đại thực bào phế nang qua trung gian bệnh lao: vai trò có thể có của IL-10 và BCL-3 (B-cell lymphocytes tạm dịch là tế bào lymphô B).
Kết hợp nhiễm lao và HIV được biết rõ. Một trong những quan sát kỳ lạ là bệnh nhân dễ bị nhiễm lao hoạt động sau khi bị lây truyền HIV. Nhiều nghiên cứu cho thấy đại thực bào phế nang quyết định cho đáp ứng nhiễm lao, và chương trình tự hủy đại thực bào phế nang là cơ chế bảo vệ quyết định để loại nhiễm lao.
Phương pháp:
Nghiên cứu thực hiện dùng đại thực bào phế nang ở người khoẻ mạnh và bệnh nhân nhiễm HIV với số đếm bạch cầu CD4 > 200 tế bào/μL và số đếm siêu vi (viral load) > 4 logarit thập phân bản sao/mL (> 10 000 bản sao/mL) và không nhận diều trị thuốc kháng retrovirus tác dụng mạnh. dò tìm cytokine được xác định với xét nghiệm EIA (Enzyme-linked Immunosorbent Accsay) Yếu tố hoại tử bướu –alpha (TNF-α) mRNA đo bằng chuổi phản ứng reverse transcriptase-polymerase. Đánh giá định lượng kết quả dựa trên quan sát in vitro.

Kết quả:
Nghiên cứu cho thHIV tạo ra mức interleukin-10 cao trong phổi, chất này làm giảm đại thực bào phế nang tự hủy qua trung gian vi trùng lao ở người nhiễm HIV, và tác dụng này được đẩy mạnh bởi protein BCL-3 (B-Cell Lymphocytes hay tế bào lymphô B) phụ thuộc TNF,BCL-3 là một protein trong tế bào trung biểu mô buồng trứng. Kết quả cuối cùng là giảm khả năng kiểm soát bệnh lao.
Kết luận :
Tác giả kết luận quan sát in vitro của nhóm này cung cấp chứng cứ giảm chương trình tự hủy qua trung gian bệnh lao phụ thuộc TNF trong bệnh nhiễm HIV. tác dụng này giải thích tại sao bệnh nhân HIV dễ nhiễm lao rất sớm.
Theo J Leucoc Biol 2009 ;86 :53-60

Chất ô nhiễm trong thuốc tiêm tĩnh mạch
Các nhà khoa học Đức nhận diện 1 chất ô nhiễm bị hiểu lầm trước đây có thể ảnh hưởng lên an toàn và hiệu quả thuốc tiêm tĩnh mạch. Trong 1 báo cáo trên báo J Leucocyte Biology số tháng 9 năm 2009, họ cho thấy một dung dịch tiêm tĩnh mạch phổ thông để tăng huyết áp ở bệnh nhân suy nhược cũng chứa những chất gọi là « advanced glycation end products » tạm dịch là sản phẩm cuối cùng của phản ứng đường hóa tiến triển. Chất này kích phát phản ứng viêm.
Những chất này là kết quả của những phản ứng xảy ra ở nhiều protein khác nhau (gọi là biến đổi sau khi dịch mã) bên trong dung dịch tiêm tĩnh mạch sau khi đã chế biến để sử dụng. Nghiên cứu này thử thách trực tiếp sự tin tưởng từ trước đến nay là sản phẩm cuối cùng của phản ứng đường hóa tiến triển không phải là chất gây nhiễm.
Các nhà khoa học tìm được những chất này trong nhiều dịch truyền albumin và tiêm vào nhiều nhóm chuột nhắt với những dung dịch chứa nồng độ cao hay thấp chất này. Chuột nhắt nhận liều cao của sản phẩm cuối phản ứng đường hóa tiến triển sẽ có tỷ suất viêm và tử suất cao hơn so với nhóm chuột nhắt tiêm dung dịch nồng độ thấp. Điều này gợi ý sàng lọc dịch truyền tìm biến đổi protein sau dịch mã rồi lấy đi những chất này có thể sẽ cải thiện tình trạng bệnh nhân, đặc biệt là điều trị cần truyền albumin.

Chất trích từ dầu dừa có thể là võ khí chống vi trùng thực phẩm
Monolaurin, chất trích từ dầu dừa có thể dùng làm chất kháng khuẩn trong thức ăn, theo một nghiên cứu trên báo Khoa học thực phẩm do Viện kỷ thuật thực phẩm xuất bản.
Monolaurin đã được FDA cho là an toàn và có tính kháng khuẩn. Nếu dùng kết hợp với những chất kháng khuẩn khác, monolaurin sẽ tạo ra hàng rào hữu hiệu chống vi trùng.
Các nhà khoa học của một đại học Trung quốc nghiên cứu sử dụng monolaurin như là 1 chất bảo quản không theo truyền thống cho thực phẩm bằng cách kết hợp với những chất kháng khuẩn phổ thông với nhiều nồng độ khác nhau và thử trên những chủng vi trùng như Escherichia coli và trên thành phần thức ăn như protein đậu nành và tinh bột tan trong nước.

Các nhà khoa học tìm ra những điều sau đây :
- Monolaurin kết hợp với ethylenediaminetetrăcetic acid (EDTA), là chất kết nối, hiệu quả chống lại Escherichia coli và Bacillus subtilis, nhưng không có tác dụng với Staphylococcus aureus.
- Khi kết hợp với chất kháng khuẩn nisin, monolaurin có tác dụng hợp lực chống lại tất cả vi trùng.
- Các nhà khoa học nghiên cứu tương tác của monolaurin với thành phần thức ăn và thấy tác dụng lên vi trùng suy giảm bởi chất béo hay tinh bột, nhưng không bị ảnh hưởng bởi protein.
Những kết quả này đóng góp hiểu biết rõ hơn về sử dụng monolaurin như là chất bảo quản không truyền thống để chống vi trùng trong thức ăn. Tác dụng kháng khuẩn của monolaurin có thể tăng nếu dùng chung với những hệ thống bảo quản khác, theo lời của trưởng nhóm nghiên cứu Hui Zhang.


Dược sĩ Lê-văn-Nhân

Xin tùy nghi sử dụng bài viết và phổ biến
Xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay: www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Linh Tinh