 |
Y
SINH HỌC
Tế Bào T và Sinh Bệnh Lý Hen Suyễn
Dược sĩ Lê-văn-Nhân
Thuật ngữ và từ viết tắt:
NKT (Natural Killer T cells): tế bào T
sát thủ
Treg ( Regulatory T cells): tế bào T điều hòa
Multiple sclerosis: bệnh xơ cứng rải rác
Allergen: dị ứng nguyên
TGF-β ( Transforming Growth Factor-beta) yếu tố
tăng trưởng beta gây biến chuyển
Atopic: dị ứng lạc chỗ
Dẫn nhập:
Bệnh hen suyễn được giải thích là
viêm và có thắt phế quản gây trở ngại hô hấp. Thuốc điều trị chính là
thuốc chống viêm steroid và thuốc giãn phế quản đồng vận beta-2. Sau đó
người ta tìm ra những nguyên nhân khác như leukotriene (leuko là trắng
tức là bạch cầu, và triene là hoạt chất có cấu trúc 3 dấu nối đôi, tức
là những chất béo có 3 dấu nối đôi tiết ra từ bạch cầu gây viêm, và dùng
montelukast (biệt dược Singulair) là thuốc đối kháng cysteinyl leukotriene
để điều trị. Tiếp theo nữa khi có phản ứng dị ứng của cơ thể, kháng thể
IgE bám vào thụ thể trên dưỡng bào hay tế bào mast, làm cho histamine
từ tế bào này tiết ra rất nhiều gây phản ứng.công ty Genetech sản xuất
thưốc kháng IgE bằng kỹ thuật sinh học tên Omalizumab. Bây giờ người ta
chú ý đến hệ thống miễn nhiễm trong cơ thể, và nhắm vào phản ứng miễn
nhiễm qua trung gian tế bào T, gồm tế bào T sát thủ hay NKT và tế bào
T điều hòa (Treg). Đặc điểm của tế bào T sát thủ là có khả năng bẩm sinh
tiêu diệt các tế bào lạ hay tế bào bị nhiễm, chứ không chuyên biệt cho
một loại vi khuẩn hay siêu vi nào. Trong nhiều năm qua, người ta ngày
càng chú ý đến vai trò của tế bào T sát thủ và tế bào T điều hòa trong
sinh bệnh ly bệnh hen suyễn do dị ứng. Cả 2 loại tế bào nầy chỉ chiếm
một phần của dân số tế bào T nhưng biểu lộ tầm quan trọng và có thể là
vai trò chính yếu trong việc phát triển bệnh dị ứng. Trong khi chứng cứ
của tế bào NKT giới hạn, một số nhóm phụ tế bào T điều hòa được nhận diện
và tìm được đặc tính.
Tế bào NKT:
Tế bào NKT chiếm khoảng <1% bạch cầu đơn nhân ngoại
vi. Những tế bào này đã biết là điều hòa hoạt động của những tế bào T
khác gây ra bệnh miễn nhiễm tự động, như bệnh tiểu đường tip 1 và bệnh
xơ cứng rải rác. Tế bào NKT đôc nhất nhận diện glycolipid thay vì peptid
qua thụ thể tế bào T không thay đổi. Người ta chú ý đến vai trò của tế
bào NKT trong hen suyễn vì nhóm tế bào này có khả năng tạo ra một lượng
đáng kể Interleukin (IL-4) và interferon gamma (IFN-γ). Tế bào NKT đáp
ứng nhanh sau khi gắn vào thụ thể tế bào T, nhả interleukin một thời gian
ngắn sau đó (< 1giờ) sau khi kích hoạt antigen hay kháng nguyên, như
glycolipid tổng hợp alpha-galactosylceramide.
Trong nhiều năm, vai trò khí đạo đáp ứng thái quá với tác dụng của dị
ứng nguyên và phản ứng viêm được quan sát ở mẫu thú vật. Trong nghiên
cứu đầu tiên, báo cáo tế bào NKT trong mẫu chuột cống hen suyễn, sự vắng
mặt của tế bào NKT ở chuột đột biến không tác động lên viêm phế đạo có
eosiphil. Sau đó những nhóm khác gợi ý trên cùng nhóm chuột nhắt hay những
chủng đột biến, nhạy cảm và thử thách dị ứng nguyên không kích động nhạy
cảm thái khí quản gây ra bởi dị ứng nguyên.
Điều này đưa đến quan sát vai trò của tế bào NKT trong
hen suyễn. Trong nghiên cứu khởi đầu, 14 bệnh nhân suyễn dai dẳng từ trung
bình đến nặng được nghiên cứu, trong đó có 10 người dùng thuốc bơm họng
corticosteroid. Trong 14 bệnh nhân này, 45% đến 85% nước rửa từ phế nang
phế quản chứa tế bào T. CD4+ được nhận diện là tế bào NKT trên căn bản
biểu lộ thụ thể NKT không biến đổi và cho thấy có khả năng tiết ra cytokine
Th2. Trên mặt tự nhiên, những khám phá đáng nhớ này nhấn mạnh vai trò
của tế bào NKT trong viêm dị ứng phế đạo gây nhiều tranh cãi. Hai nghiên
cứu khác cũng chứng minh tăng cao mức tế bào NKT không biến đổi ở người
hen suyễn, nhưng ít hơn báo cáo của Akbari và cộng sự. Thomas nêu lên
một thử thách đáng kể đặt câu hỏi về tiêu chuẩn nhuộm tế bào và kết luận,
và từ đó thấy mức tế bào NKT không biến đổi thấp hơn (0.4% so với 2.1%)
ở người hen suyễn và không điều trị bằng corticosteroid. Dùng kiểm chứng
chặt chẽ, dùng cửa ngõ cho tế bào muốn nghiên cứu và giảm thiểu nhuộm
tế bào không đặc thù, Vijayanand và cộng sự cho thấy số tế bào NKT không
tăng ở mẫu nước rửa phế bào phế quản từ người hen suyễn so với nhóm kiểm
chứng khỏe mạnh. Trong nghiên cứu này, người ta đặc biệt chú ý loại bỏ
nhuộm bạch cầu mono/đại thực bào không đặc thù.
Người ta không rõ tại sao kết quả lại trái ngược nhau ở 2 nghiên cứu và
nhất là nghiên cứu trên người hen suyễn. Có thể tế bào NKT khi được kích
hoạt sẽ bành trướng tạm thời, sau đó sẽ gắn chương trình tự hủy (apoptosis),
hiện tượng này thấy ở chuột nhắt. Tuy nhiên, không phải tất cả các mẫu
đều lấy được trong thời gian “của sổ bành trướng” tế bào NKT, trong khi
những nghiên cứu khác quan sát nhằm giai đoạn các tế này biến mất. Dầu
sao, thực hiện cẩn thận nghiên cứu theo chiều dọc sẽ rất quan trọng để
hổ trợ hay bác bỏ vai trò của tế bào NKT trong sinh bệnh lý bệnh hen suyễn.
Tế bào T điều hòa (Treg):
Tế bào T điều hòa có tiềm năng bảo vệ chống lại phát triển
bệnh dị ứng và đặc biệt là hen suyễn. Chức năng chính của tế bào T điều
hòa là kiểm soát đáp ứng miễn dịch. Foxp3 là yếu tố phiên mã chính yếu
để phát triển và chức năng của CD4+CD25 + Treg. Sự thất bại của Treg hay
tế bào T điều hòa hoặc do kết quả đột biến Foxp3 hoặc cố ý hủy diệt các
tế bào này trong mẫu thú vật. Trong cả 2 trường hợp, hoặc do kết quả của
bệnh trầm trọng hệ miễn nhiễm tự động hoặc do bệnh dị ứng. Trong trường
hợp hiếm có đột biến Foxp3 ở người, bệnh sinh ra, rối loạn hệ miễn nhiễm
bệnh nhiều hệ nội tiết tố, bệnh đường ruột, hội chứng liên quan đến X,
thường bị chốc lở nặng, cao mức IgE, eosinophil cao trong máu và dị ứng.
CD4+ CD25+ Treg tự nhiên đều từ tuyến ức (thymus). Một nhóm dân số thứ
hai của CD4+ CD25 + Treg có thể sinh ra trong vitro hay trong vivo qua
kích thích antigen. Cả 2 nhóm phụ có vẻ điều hòa hệ miễn nhiễm tự động
qua sản xuất IL-10 và yếu tố tăng trưởng beta gây biến chuyển (TGF-β).
Cả 2 nhóm phụ này có vẻ đóng một vai trò quan trọng trong
việc điều hòa phát triển biểu lộ bệnh dị ứng, như đã chứng minh trong
hội chứng IPEX và chủ yếu là chứng cứ ở người. PBMC từ bệnh nhân dị ứng
có khuynh hướng sinh sản nhiều hơn và tạo ra nhiều cytokin Th2 sau khi
kích thích dị ứng tố hơn là tế bào từ người không bị dị ứng lạc chỗ (atopic).
Sau khi loại bỏ tế bào T CD25+ từ mẫu cấy kiểm chứng, đáp ứng được tăng
cường đến mức thấy được ở PBMC dị ứng lạc chỗ. Tần số tế bào T tiết IL-10
đặc biệt với dị ứng nguyên, tăng ở người không dị ứng (atopic) so với
người dị ứng. Hơn nữa, can thiệp dùng để giảm thiểu tính trầm trọng của
bệnh dị ứng, như điều trị miễn nhiễm bằng dị ứng nguyên hay corticosteroid,
tăng sản xuất IL-10 do Tregs.
Vai trò của Treg trong hen suyễn ít rõ ràng hơn và trước
đây chỉ giới hạn trong mẫu thú vật. Một số dữ liệu lại trái ngược nhau.
Nói chung, khi hủy diệt CD4+ CD25+ Tregs tăng cường, trong khi cung cấp
những tế bào sẽ loại bỏ đáp ứng dị ứng ở phổi và trong một vài nghiên
cứu về đáp ứng thái quá của khí đạo do dị ứng tố gây ra. Trong một loạt
nghiên cứu, Joetham và cộng sự quan sát chức năng của nTregs (CD4+ CD25+
Fpxp3+) cô lập từ phổi chuột nhắt chưa tiếp xúc với dị ứng tố. Khi chuyển
vào bên trong khí quản chuột đã nhạy cảm trước khi thử thách với dị ứng
tố, người ta thấy giảm đáng kể đáp ứng thái quá của khí đạo (AHR) gây
ra bởi methacholin, tăng tế bào hạp phẩm eosin, mức cytokin Th2, tăng
sản xuất chất nhờn, và tế bào goblet giai đoạn trưởng thành. Những tác
dụng này phụ thuộc vào sản xuất IL-10 và TGF-beta bởi nTregs. Kích hoạt
chương trình loại bỏ nTregs phụ thuộc (MHC: major histocompatibility class)
tạm dịch là lớp tương hợp mô chính tương tác I-CD8. Khi vắng mặt những
tương tác này, những nTregs biểu lộ tính co dãn, chuyển biến thành chất
sản xuất IL-13, có khả năng đáp ứng dị ứng ở phổi.
Mặc dầu khó có thể nới rộng từ mẫu thú vật sang lâm sàng ở người, càng
ngày càng có chứng cứ từ những mẫu này về vai trò quan trọng của CD4+
CD25+ Foxp3 Tregs trong việc kiểm soát bệnh dị ứng kể cả hen suyễn. Những
tác dụng này có vẻ phụ thuộc phóng thích IL-10 và TGF-beta. Kiểm soát
sức mạnh của Tregs, sự cảm ứng và khích hoạt có thể cung cấp một chiến
lược quan trọng để kiểm soát viêm dị ứng qua trung gian Th2.
Bài này được báo cáo trong hội nghị hàng năm của Hàn lâm
viện Hoa-kỳ về dị ứng, hen suyễn và hệ miễn nhiễm năm 2008 tại Philadelphia
(tiểu bang Pennsylvania).
Ds Lê Văn Nhân
Copyright, 2008. Muốn phổ biến
bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay,
www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |