 |
Hảo
Ngọt
Bs Thú y Nguyễn thượng Chánh &
Ds Nguyễn ngọc Lan
Có một điểm tương đồng ở tất cả mọi người, dù già hay trẻ, dù Ta hay Tây
ai nấy cũng đều thích ngọt cả... Một món ăn có vị ngọt vẫn dễ hấp dẫn
khẩu vị hơn là một món ăn nhạt nhẽo vô vị.
Một lời nói ngọt ngào dù cho không thật lòng đi nữa, vẫn làm mát lòng
người nghe hơn là một lời nói móc lò xỏ ngọt, chua cay, đầy đố kỵ hơn
thua cao thấp!
Thèm ngọt là một nhu cầu thiết yếu của cơ thể, để củng cố năng lượng.
Carbohydrate hay Glucide là những hợp chất bao gồm đường (sugar), bột
đường hay tinh bột (amidon, starch) và chất xơ (fibre).
Những chất nầy rất cần thiết cho chúng ta để sống. Nhưng ngọt quá đôi
khi cũng nguy hiểm lắm đó! Ngọt mật chết ruồi mà! Lời đường mật làm cho
con người mù oán, si mê điên dại.
Hảo ngọt quá đôi khi cũng làm cuộc đời thêm khốn khổ rắc rối…
Các loại đường
Đường là chất phụ gia (additif alimentaire, food additive) đứng hàng đầu
tại Hoa Kỳ. Các chất đường thiên nhiên sau đây được xem là tiêu biểu và
thông dụng nhất:
*-Đường cát (table sugar, white sugar, granulated
sugar): Đường cát là loại đường thông dụng nhất hiện nay trên thế
giới. Màu trắng, hạt nhuyễn mịn hay to, được trích lấy và biến chế từ
mía đường hoặc từ củ cải đường (beets). Tên khoa học của đường cát là
sucrose hay saccharose. Đường cát đã chịu qua nhiều giai đoạn tẩy trắng
bằng hóa chất nên rất tinh chế, cho nên có người nói rằng ăn đường cát
thường xuyên sẽ không tốt cho sức khỏe.
*-Đường thô (raw sugar): Có được trong giai
đoạn đầu của việc sản xuất đường. Đường thô màu xậm và hạt to hơn đường
cát trắng. Tại Hoa Kỳ, sau khi lấy bớt chất bẩn ra, đường thô được bán
với những tên như demerera, turbinado, hoặc muscavado.
*-Đường nâu (brown sugar, sucre roux, cassonade):
Màu từ sậm tới lợt. Đây là 90% đường cát có trộn 10% mật đường.
Rất được nhiều người sử dụng vì họ nghĩ rằng loại đường nầy có vẻ thiên
nhiên cho nên tốt cho sức khỏe hơn mấy loại đường cát trắng tinh chế?
*-Đường bột (confectioner’s sugar, powdered sugar):
Đây là loại đường nhuyễn y như bột. Đôi khi người ta thêm tinh bột bắp
để giúp đường khỏi bị đóng cục. Đường bột được dùng để áo bên ngoài của
các loại bánh ngọt.
*-Đường trái cây (fructose): Hiện diện một
cách tự nhiên trong các loại trái cây.
*-Đường của sữa (lactose): Các loại sữa đều
có chứa lactose một cách tự nhiên. Ít ngọt.
*-Đường lúa mạch (maltose)
*-Mật đường (molasse): Sau khi đường cát
được trích lấy, chất nước còn lại được gọi là mật đường. Chất nầy có màu
đen, vị ngọt hơi đắng và có chứa nhiều chất khoáng như magnesium và chất
sắt. Mật đường được dùng để nuôi gia súc, để cất rượu cồn ethyl alcohol,
hoặc để làm bánh.
*-Sirop bắp (corn syrup): Còn được gọi là
high fructose corn syrup vì chứa rất nhiều fructose. Đường glucose của
tinh bột bắp được chuyển thành fructose. Sirop bắp được sử dụng rất rộng
rãi trong kỹ nghệ biến chế thực phẩm.
*-Sirop nhựa cây phong (sirop d’érable, maple syrup):
Đây là sirop quốc hồn quốc túy của Canada. Nhựa cây phong được trích lấy
khoảng tháng ba khi trời bớt tuyết và trời bắt đầu hơi ấm áp, đến cuối
tháng tư lúc cây đâm chồi thì ngưng hứng nhựa. Bốn mươi gallons nhựa cây
phong đem nấu cho được một gallon sirop. Từ sirop nhựa cây phong người
ta còn biến chế thành nhiều thành phẩm khác rất ngon như beurre d’érable,
tire, kẹo, v.v...
*-Mật ong (honey): Rất thay đổi tùy loại
mật. Nói chung, mật ong chứa nhiều đường fructose (levulose) 38%, dextrose
31%, sucrose 1%, nước 17% và vitamins.
*-Đường nghịch chuyển (invert sugar): Có
được qua phương pháp làm thủy phân sucrose ra đường glucose (dextrose)
và đường fructose với một tỷ lệ bằng nhau. Đường nghịch chuyển ngọt hơn
đường cát, và thường được dùng để làm chậm lại hiện tượng kết tinh (thí
dụ trong các lọ mứt) cũng như để giữ ẩm đổ lâu hơn nhất là đối với các
loại bánh ngọt có chứa rất ít chất béo, nhờ vậy sản phẩm sẽ lâu khô và
có vẻ tươi mới.
+ Ở Việt Nam, ngoài những loại đường thông thường như vừa kể bên trên,
mình cũng có nhiều loại đường rất đặc biệt và rất bình dân, đó là: đường
thẻ, đường móng trâu, đường chảy dùng để nấu chè hoặc kho cá vì nó rẻ
tiền. Đường xắc, dùng làm nước mắm hoặc để ăn xoài tượng sống ngon khỏi
chỗ chê.
Vùng Tân Châu, Châu Đốc thì có đường thốt lốt, ngọt dịu và thơm nữa. Muốn
sang hơn thì ăn đường phổi, đường phèn, nhưng những loại đường nầy cũng
không mấy thông dụng cho lắm.
Rồi còn đường mạch nha kéo trên bánh tráng bánh phồng nữa.
Ba bốn chục năm về trước, lúc quê hương còn trong khói lửa, đường là một
nhu yếu phẩm, thường bị khan hiếm một phần do con buôn đầu cơ tích trữ
cho nên giá mua rất đắt.
+Tại Canada, lúc bán sale mua đường có khi còn rẻ hơn là mua muối.
Đường đơn giản hay đường hấp thụ nhanh (Sucre simple
ou à absorption rapide)
Đây là đường thiên nhiên theo nghĩa thông thường mà chúng ta hiểu…Những
chất tạo vị ngọt nầy được thấy trong bánh, kẹo, chè, chocolat hoặc trong
các loại nước ngọt loại regular như Pepsi, Coca, Soda, Seven Up, v.v…Đường
mía (saccharose), đường trái cây (fructose), đường sữa (lactose) là những
thí dụ điển hình.
Trong ruột, đường đơn giản chuyển thành glucose và được hấp thụ vào máu
một cách rất nhanh chóng. Khi đường huyết glycémie tăng, lập tức tụy tạng
sẽ tiết ra insuline để giúp tế bào hấp thụ glucose vào đồng thời kéo đường
huyết xuống mức bình thường.
Đường phức tạp hay đường hấp thụ chậm (Sucre complexe
ou à absorption lente)
Vị hơi ngọt và gồm có bột đường (tinh bột) và các chất xơ. Tinh bột được
thấy trong bánh mì, khoai Tây, cơm, gạo, ngũ cốc và trong các loại pasta
như nouille, macaroni, spaghetti, v.v...
Chất xơ có nhiều trong rau, cải, hoa quả, đậu, trong hạt dẻ (walnuts)
cũng như trong các loại cereal làm từ hạt thô (wholemeal grain, grain
entier)...
Đường phức tạp cần sự tác động của một số enzymes để chuyển ra thành glucose
rồi mới được hấp thụ vào máu. Bởi lý do nầy, cho nên đường huyết tăng
lên chậm hơn so với trường hợp đường đơn giản. Đường phức tạp rất cần
cho các hoạt động biến dưỡng của cơ thể.
Đường đơn giản và đường phức tạp không thể thay thế lẫn nhau được.
Ăn nhiều đường quá có hại sức cho khỏe không?
Đường đơn giản và đường phức tạp đều tạo ra năng lượng.
Một gram đường cho ra 4 calories. Năng lượng dư thừa sẽ được dự trữ dưới
dạng glycogen và mỡ... Ăn ngọt thường xuyên quá, mập ra cũng dễ hiểu mà
thôi.
Tình trạng béo phì dễ dẫn đến các bệnh tim mạch, tăng huyết áp và tiểu
đường. Ngoài ra, việc ăn nhiều đường, kể cả đường thiên nhiên như đường
trái cây và mật ong cũng vậy, có thể đưa đến tình trạng hư răng nếu không
chịu súc miệng đánh răng kỹ lưỡng. Ăn nhiều bánh kẹo ngọt cũng có thể
làm chất triglyceride (một loại chất béo xấu) trong máu gia tăng.
Năm 2005, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết trên thế giới có vào khoảng
trên 170 triệu người mắc bệnh tiểu đường và con số nầy có thể tăng gấp
đôi vào năm 2030. Chỉ riêng Hoa Kỳ cũng có trên 21 triệu bệnh nhân.
Thực phẩm quá dồi dào đường cũng như quá nhiều dầu mỡ và chất béo bão
hòa, cộng thêm việc thiếu vận động là những nhân tố dẫn đến tình trạng
béo phì, bệnh tim mạch và bệnh tiểu đường type II còn được gọi là Diabetes
mellitus. Bệnh tiểu đường đã chiếm 8% ngân sách về y tế tại các quốc gia
kỹ nghệ. Người ta còn gọi đây là bệnh của nhà giàu, nhưng thực tế cho
thấy bệnh tiểu đường không tha nhà giàu cũng như không bỏ nhà nghèo.
Bệnh tiểu đường là bệnh gì?
Tiểu đường là một bệnh mạn tính do tụy tạng không có khả năng tiết insulin,
hay tiết không đủ số cần thiết hoặc insulin không hữu hiệu trong việc
giúp hấp thụ đường glucose từ máu vào tế bào.
Tiểu đường type II (non insulin dependent
diabetes) chiếm đa số 90% , thường xảy ra cho những người trung niên trở
lên, nhưng hình như ngày nay giới trẻ tiêu thụ quá nhiều fast foods cũng
có khuynh hướng mắc bệnh tiểu đường type II...
Tiểu đường type I (insulin dependent diabetes,
juvenile diabetes), là một loại bệnh tự miễn (autoimmune) hủy hoại tế
bào bêta của tụy tạng nên không thể tiết được hormone insulin. Bệnh nầy
chiếm 10% và thường thấy ở trẻ em và thiếu niên. Người bệnh cần phải được
tiêm insuline mỗi ngày và chích suốt cuộc đời.
Ngoài ra, đôi khi chúng ta thấy một loại bệnh tiểu đường ở phụ nữ lúc
đang mang thai (gestational diabetes). Bệnh thường khỏi sau khi sanh,
nhưng có thể có nhiều nguy cơ tái phát thành bệnh diabetes type II sau
nầy.
Bệnh có thể do di truyền hoặc thụ đắc (acquise).
Mệt mỏi, mất cân, ăn nhiều (polyphagia), uống nước nhiều (polydipsia)
và đi tiểu nhiều (polyuria) là những dấu hiệu chính của bệnh tiểu đường.
Nguy hiểm nhất là bệnh có thể gây những biến chứng về mắt (rétinopathie
diabétique) đưa đến mù lòa, làm suy thận (insuffisance rénale), hoặc dẫn
đến các bệnh lý về tim mạch (cardiopathies), về thần kinh (neuropathie
diabétique) hoặc làm loét chân (ulcération des pieds) đưa đến việc cưa
chân... Bệnh nhân chết vì các biến chứng của bệnh tiểu đường gây ra mà
thường nhất là bị hư thận.
Có rất nhiều loại thuốc uống để kềm hãm đường huyết, và nếu trường hợp
quá nặng thì cần phải chích insuline mỗi ngày. Đa số thuốc đều có phản
ứng phụ (side effects) bất lợi. Tùy theo tình trạng sức khỏe của mỗi người
cũng như sự hiện diện của biến chứng mà bác sĩ kê toa một loại thuốc nào
đó, hoặc đổi thuốc khác, hoặc điều chỉnh liều lượng của món thuốc cho
thích hợp hơn, v.v... Người bị tiểu đường cần phải
thay đổi nếp sống, kiêng cữ đủ thứ, tránh các loại thức ăn ngọt, cơm gạo,
xôi chè, bánh trái chế biến từ bột tinh chế (refined). Cần tránh thức
ăn chứa nhiều mỡ dầu, ngoài ra cũng cần phải kiên trì vận động tập thể
dục thường xuyên mỗi ngày.
Tập chí New England Journal of Medicine, Feb7/2008 có đăng bài nghiên
cứu về bệnh tiểu đường. Đây là kết quả của một công trình khảo cứu nằm
trong chương trình Diabetes Prevention Program DPP do National Institute
of Diabetes and Digestive and Kidneys Diseases tài trợ, và thực hiện từ
nhiều năm qua trên 3000 người có dấu hiệu nói lên nguy cơ có thể bị bệnh
tiểu đường type II trong tương lai. Đó là sự béo phì (obesity) và sự rối
loạn khả năng dung nạp glucose (Impaired Glucose Tolerance), có nghĩa
là đường huyết nằm cao hơn mức bình thường 6,1mmol/L nhưng dưới 7mmol/L.
Bác sĩ gọi tình trạng nầy là Prédiabétique.
Nếu đường huyết từ 7mmol/L trở lên thì đó là bệnh diabetes thật sự.
Kết quả khảo cứu đã cho biết là, một chế độ dinh dưỡng thích nghi, vừa
phải và cộng thêm một chương trình thể dục đều đặn 30 phút/ngày sẽ giúp
giảm 58% nguy cơ bị bệnh tiểu đường type II, so với 22% nếu chỉ uống Metformin
là loại thuốc rất thông dụng để làm hạ đường huyết xuống mà thôi.
(By adopting a moderate, consistent diet and exercice program, many people
with one or more risk factors for type II diabetes can stop the disease
before it becomes irreversible).
http://diabetes.niddk.nih.gov/about/dateline/spri02/1.htm
Một chế độ dinh dưỡng thích nghi có nghĩa là ăn nhiều rau cải trái cây,
đậu, hạt dẻ, thực phẩm làm từ bột thô không tinh chế (unrefined complex
carbohydrate), giảm việc ăn thịt đỏ (heo, bò) và thay thế bằng thịt trắng
như thịt gà hay cá. Ngoài ra, cần nên tránh ăn nhiều dầu mỡ và muối.
Trong quá khứ, North Calorina University và Toronto University (Dr David
Jenkins) đã thực hiện nhiều khảo cứu về dinh dưỡng nói lên sự ích lợi
của việc ăn chay để ngừa bệnh tiểu đường và cholesterol trong máu. Tuy
vậy, cũng cần nên biết là ăn chay phải cho đúng cách nếu không thì cũng
vẫn bị bệnh tiểu đường như thường.
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=6&nid=99927
Khi đi du lịch xa, bệnh nhân cần phải đến pharmacie lấy đủ thuốc dùng
trong suốt thời gian du lịch. Bệnh nhân mỗi ngày nên tự đo mức độ đường
huyết của mình bằng cách chích lấy một giọt máu ở đầu ngón tay và đọc
kết quả qua máy glucometer để biết tình trạng thật sự của mình lúc đó
Bệnh tiểu đường cần phải được theo dõi và chữa trị suốt đời.
Tại Hoa Kỳ, một số thuốc trị tiểu đường thường thấy sau đây:
Class of Agent Generic Name Trade Name(s)
Sulphonylureas:
1st generation* tolbutamide
chlorpropamide
tolazamide Orinase®
Diabinese®
Sulphonylureas:
2nd generation glyburide
glipizide
glimepiride Diabeta®, Micronase®, Glynase®, Glucotrol®, Glucotrol XL®,
Amaryl®
Benzoic Acid Derivatives repaglinide Prandin®
Biguanides metformin Glucophage®
Thiazolidinediones troglitazone
roziglitazone
pioglitazone Rezulin®
Avandia®
Actos®
Alpha-glucosidase inhibitors acarbose
miglitol Precose®
Glyset®
* This is not a complete list of 1st generation sulphonylureas. Their
only current indication is cost. When costs of generic second generation
sulphonylureas become low enough, there will not be an indication for
first generation agents any longer in the treatment of diabetes.
Tại Canada, các thuốc sau đây thường được bác sĩ kê toa:
- Metformin (Glucophage)
- Glyburide (Diabeta)
- Pioglitazone (Actos)
- Gliclazide (Diamicron)
Không ít bệnh nhân tiểu đường, đồng thời với thuốc Tây, họ cũng tự động
uống thêm các loại thuốc thiên nhiên để mong giúp hạ đường huyết cho nhanh.
Kết quả thật sự ra sao khó có ai biết được.
http://www.yduocngaynay.com/5-5NgTChanh_HaDuongHuyet_ThuocThienNhien.htm
Nói tóm lại, lối sống vội vả + ăn nhiều fast foods + ù lì thiếu vận động,
là những nguyên nhân quan trọng cho sự bộc phát của những bệnh tim mạch
và bệnh tiểu đường.
Người bị bệnh tiểu đường có thể dùng đường
được không?
Theo l’Association Canadienne du Diabète, thì họ vẫn có thể ăn ngọt được,
nhưng phải ăn một cách điều độ chừng mực và vừa phải thôi. Họ cũng có
thể thay thế đường bằng cách ăn trái cây, rau cải, hoặc bằng các sản phẩm
của sữa. Trong một ngày họ không được ăn quá giới hạn tối đa 10% calories
từ các thức ăn ngọt. Thí dụ, một người có nhu cầu năng lượng là 2000calories/ngày
thì 10% tương đương là 200 calories. Biết rằng 1gr đường cho 4 calories...
200 calories sẽ là năng lượng của 50 grams (12 muỗng café) đường tạo ra.
Trên đây là những chỉ dẫn chung chung mà thôi. Bệnh trạng mỗi người mỗi
khác, nên chỉ có bác sĩ điều trị mới có thẩm quyền quyết định.
Các nhà khoa học Âu Mỹ đều nói rằng không có mối liên hệ trực tiếp cho
thấy đường là nguyên nhân gây ra bệnh diabetes type II. Nhưng về mặt sinh
lý học, rất có thể đường gây ra bệnh diabetes một cách gián tiếp, chẳng
hạn như trong trường hợp chúng ta thường tiêu thụ những thức ăn thức uống
có chỉ số đường huyết (glycemic index) cao, khiến tụy tạng bị mệt mỏi
và trở nên yếu đi, vì phải thường xuyên tiết insuline.
Gs Jim Mann thuộc Đại Học Otago, New Zeland cũng nhận định rằng đường
gây béo phì và tình trạng nầy sẽ dẫn tới bệnh diabetes. Mập bụng (abdominal
obesity) là một mối nguy cơ (risk factor) làm xuất hiện bệnh tiểu đường
type II..
Trong thực tế, rất khó tách rời ảnh hưởng của đường trong bệnh diabetes.
Thêm đường vào thức ăn thức uống chỉ làm tăng calories ăn vào chớ chẳng
làm gia tăng giá trị dinh dưỡng của sản phẩm. Các khảo cứu về bệnh tiểu
đường những năm gần đây nghi ngờ các loại nước ngọt có gaz như Coca, Soda,
Pepsi, Seven Up, v.v...đã dự phần quan trọng trong sự xuất hiện của bệnh
diabetes.
Vậy thì Fructose có tốt hơn không?
Đây là đường trích từ trái cây. Fructose ảnh hưởng ít hơn các loại đường
khác trong việc làm gia tăng đường huyết, vì vậy từ trước tới giờ các
bệnh nhân diabetes thường được khuyên nên sử dụng đường fructose để tạo
vị ngọt, nhưng ngày nay thì fructose mất dần sự sáng chói của nó.
Được biết rằng ảnh hưởng của fructose không mấy quan trọng trong việc
kiểm soát đường huyết, vì nó không kích thích sự tiết insuline, và tai
hại hơn nữa là nó làm tăng hàm lượng loại chất béo xấu triglyceride lên.
Sự gia tăng triglyceride trong máu là một yếu tố làm tăng nguy cơ bệnh
tim mạch. Thí nghiệm trên súc vật cho thấy fructose còn làm tăng sự kháng
insuline (résistance à l’insuline), đồng thời cũng làm thay đổi hiện tượng
dung nạp glucose (tolérance au glucose) và hiện tượng cao máu.
Thí nghiệm lâm sàng sơ khởi thực hiện ở người, còn cho biết fructose làm
tăng cân do tác dụng xấu trên hàm lượng của hai hormones liên hệ tới sự
no (satiété) và sự đói (appétit)... Đó là hormones leptine và ghréline.
Chỉ số đường huyết (Glycemic index, GI) là gì?
GI do Gs David Jenkin, Canada nêu ra đầu tiên vào năm 1981. Ý niệm nầy
lần hồi đã thay thế ý niệm đường đơn giản và đường phức tạp đã lỗi thời.
Chỉ số đường huyết là vận tốc chuyển hóa của một carbohydrate ra thành
glucose để được hấp thụ vào máu.
Một thức ăn có GI càng cao thì đường huyết càng tăng nhanh. Vì vậy, các
nhà dinh dưỡng khuyên chúng ta nên dùng những thức ăn nào có GI thấp để
ngăn ngừa bệnh béo phì, bệnh tim mạch và tiểu đường type II.
Trong thực tế, người ta thường pha trộn lẫn lộn các loại thức ăn có GI
khác nhau trong các bữa ăn hằng ngày. Nhìn chung, các loại đường phức
tạp như ngũ cốc, cơm gạo, bánh mì, pasta, spaghetti, và các loại rau cải
xanh là những thực phẩm chứa nhiều dưỡng chất và chất xơ. Đối với những
loại carbohydrate nầy, thì đường huyết sẽ tăng chậm hơn là nếu dùng các
loại đường đơn giản quá tinh chế như đường cát trắng chẳng hạn.
Tuy vậy, cũng có một vài ngoại lệ, một số chất đường phức tạp như gạo
trắng, pain blanc, bắp, khoai Tây lại có GI cao hơn một số đường đơn giản.
GI cũng có thể thay đổi tùy theo nhiều yếu tố khác nhau như: tùy theo
kích thước các phân tử tạo nên sản phẩm, chẳng hạn như cereal càng nhuyễn,
càng tinh chế thì có GI càng cao; tùy theo cơ cấu sinh hóa (thí dụ gạo
Basmati chứa nhiều đường amylose nên có GI thấp hơn gạo trắng hạt dài,
là thứ gạo chúng ta ăn hằng ngày); tùy theo cách biến chế nấu nướng, như
khoai Tây nấu chín trong nồi có GI thấp hơn khoai Tây đút lò; bột khoai
Tây (purée, flocon de pomme de terre) có GI cao hơn GI khoai Tây nguyên
củ; carotte tươi có GI thấp hơn GI carotte nấu chín, v.v…
Trong lĩnh vực thể thao, ý niệm GI rất được các vận động viên quan tâm
đến.
Trước hôm ngày tranh tài, nên ăn những loại thực phẩm có GI thấp và GI
trung bình, như pasta, spaghetti, chuối, yogurt để dự trữ năng lượng…
Ngày tranh tài, thì dùng những thức ăn dễ tiêu, có GI cao như các thỏi
bánh kẹo ngọt có nhiều đường và vitamins.
Ngay sau khi kết thúc cuộc thi đấu, nên ăn những món có GI cao để bù đấp
lại nhanh chóng năng lượng tiêu hao.
Đây là một nguyên tắc thường được các người tham dự các cuộc chạy marathon
áp dụng.
Tải lượng đường huyết (charge glycémique, glycemic load hay GL)
là gì?
Ý niệm rất mới mẻ trong dinh dưỡng.
GL bổ túc cho chỉ số đường huyết GI. Tải lượng đường huyết GL có tác dụng
ước định khả năng làm tăng đường huyết của một phần chuẩn (par portion,
per serving) của một thức ăn nào đó. Người ta tính GL bằng cách lấy GI
nhân cho số lượng glucides (g) chứa trong phần chuẩn của sản phẩm, sau
đó chia cho 100:
GL= GI x quantity glucides (g) per serving/100
Thí dụ: 1 serving cereal corn flake 30g có GI 82 và có chứa 25g glucide.
GL của nó sẽ là
25 x 82/100 = 20,5
Tóm lại, GI là thước đo chất lượng của glucides và GL là thước đo số lượng
của glucide hiện diện trong một thức ăn.
Tải lượng GL của một phần chuẩn thức ăn:
- GL thấp nếu dưới 10
- GL trung bình từ 11 đến 19
- GL cao nếu từ 20 trở lên
Tải lượng GL trong một ngày:
- thấp nếu dưới 80
- cao nếu từ 120 trở lên
Tiêu thụ thức ăn có GI cao mà đồng thời chứa ít chất xơ thì rất dễ làm
xáo trộn đường huyết. Lâu ngày có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện bệnh
diabetes type II và bệnh tim mạch.
Ý niệm tải lượng đường huyết GL được nhiều nhà dinh dưỡng ưa chuộng hơn
ý niệm chỉ số đường huyết GI, vì lý do GL phản ảnh đồng thời số lượng
và chất lượng của glucide trong một thức ăn.
Chỉ số đường huyết GI của một vài loại thực phẩm.
+Thức ăn chuẩn là Glucose có GI = 100
+Thức ăn có GI thấp hơn 55:
Đậu nành - đậu phọng (15), đậu xanh (30), đậu trắng (38), đậu đỏ (40),
sữa (30), yogurt (35), cam (40), táo pomme (39) , biscuit khô (55), bột
lúa mạch oat (50), bún (35), gạo Basmati có nhiều amylose (50), carotte
tươi (35), fructose hay đường trái cây (20), gạo lức - đậu petit pois
- khoai lang - bánh mì multigrain - pain au son (45), rau cải xanh - tomate
- cà tím, ớt xanh - hành tỏi - nấm rơm (10), bưởi (22), cam (43), trái
poire (36), khoai mỡ (51), xoài (55), trái pêche tươi (28), nước trái
táo pomme (48), nho tươi (43).
+Thức ăn có GI trung bình 56 - 69:
Càrem (59), nước cam lon (65), chuối (62), đu đủ (60), pain blé entier,
wholemeal bread (69), trái kiwi (58), nho khô (64), đường cát sucrose,
saccharose (65), khóm (66).
+Thức ăn có GI cao trên 70:
Carotte chín (85), pain blanc (70), cơm trắng gạo hạt dài (72) chứa ít
amylose, gạo tấm broken rice (86), nếp (98), các loại cereal, cornflakes
(80), mật ong ( 90), Pepsi Coca (70), riz instantané (90), maltose beer
(110), khoai Tây chiên fries hay khoai đút lò (95), khoai tây nấu chín
(70), dưa hấu (72), bí rợ (75), corn chip (72), bánh biscuit khô cracker
(78), bánh mì baguette (95).
**Chú ý: Cơm, nếp (xôi chè, bánh tét, bánh chưng, v.v...), bánh mì baguette,
là những món mà đa số người VN mình đều ăn thường xuyên. Đây cũng là những
món có GI cao rất dễ làm tăng đường huyết. Nên tránh hoặc ăn thật ít nếu
chúng ta đang có vấn đề tiểu đường. Nên thay thế chúng bằng những thức
ăn có chỉ số GI thấp như bún, miến, rau cải luộc hoặc cơm gạo Basmati...
Ăn để giảm mập
«Je mange, donc je maigris»... Đây là tựa đề một quyển sách của Michel
Montignac. Ông này là người Pháp và cũng là một nhà dinh dưỡng tự học
lấy, nhưng ông ta lại có sáng kiến độc đáo đánh trúng vào yếu điểm của
dân Tây phương là ai ai cũng đều sợ mập cả.
Theo Montignac, thì năng lượng calories không đáng cho ta quan tâm đến.
Thịt, mỡ, chất đạm, chất béo cũng không đáng ngại. Thủ phạm của tình trạng
béo phì, vẫn theo Montignac, là đường, và các carbohydrate quá tinh chế
(raffiné, refined), như các loại khoai Tây, white bread, đường cát trắng,
v.v…Muốn giảm cân thì cần tránh những thực phẩm có GI cao, chỉ nên dùng
những thức ăn nào có GI thấp dưới 50 mà thôi, và phải biết cách phối hợp
các loại thức ăn với nhau cũng như cần ăn nhiều rau cải trái cây có nhiều
chất xơ. Ăn bao nhiêu thức ăn cũng được, ăn cho đến no thì thôi, không
cần phải hạn chế số lượng ăn vào.
Lẽ dĩ nhiên, là ý niệm quá cách mạng của Montignac đã làm phần lớn các
nhà dinh dưỡng nhảy nhỏm lên hết. Phương pháp Montignac đã bị công kích,
đã phá khắp mọi nơi. Tuy vậy, Montignac vẫn tìm được một số đồng minh
cho thuyết dinh dưỡng của mình.
Tại Quebec/Canada, Bs Dumesnil chuyên khoa tim mạch đã hết lòng bênh vực
Montignac. Ông lang Tây này nói là đã áp dụng thành công và hiệu quả phương
pháp Montignac, và nó đã giúp ông sụt được 21 kg trong vòng có 6 tháng
mà thôi (?). Rất nhiều người trên thế giới đã theo phương pháp Montignac
và xem nó như một loại mode trong cuộc sống vậy.
Hiệp hội các nhà dinh dưỡng Quebec đã đưa ra nhận xét là phương pháp Montignac
là dỏm, rất nguy hiểm và thiếu cơ sở khoa học cũng như thiếu những thử
nghiệm lâm sàng đáng tin cậy...
Thực chất của phương pháp Montignac là việc giảm thiểu đáng kể của số
lượng calories ăn vào mà thôi. Phương pháp này cũng nguy hiểm vì nó không
quan trọng hóa các loại chất béo và mỡ dầu ăn vào, cũng như nó không đặt
nặng việc cần phải vận động tập thể dục để có một sức khỏe tốt.
Ai chê, ai khen mặc ai, Montignac vẫn phây phây và đã trở thành triệu
phú nhờ vào hằng triệu sách bestseller của ông bán ra, cũng như vô số
trung tâm dinh dưỡng theo phương pháp Montignac mọc lên khắp thế giới.
Chế độ ăn uống ít chất đường/bột đường (Low carb
diet)
Từ hơn 30 năm nay, tại Hoa Kỳ, Bs Robert Atkins, chuyên khoa tim mạch
đã hết lòng quảng bá và bảo vệ thuyết dinh dưỡng do ông đề xướng ra, đó
là cách ăn uống ít đường và bột đường, nhưng ăn nhiều thịt nhiều mỡ để
giảm cân. Tiếng Anh gọi là Low carb diet.
Theo ông ta, ăn nhiều carbohydrate sẽ tạo ra nhiều glucose trong máu,
đồng thời tụy tạng sẽ tiết nhiều insulin. Số glucose thặng dư được chuyển
thành mỡ và chất insulin sẽ giúp vào sự tích tụ của mỡ trong cơ thể. Thông
thường, lối 60% năng lượng của cơ thể có nguồn gốc từ các loại đường và
bột đường ăn vào.
Vậy muốn giảm mập thì phải giảm chất carbohydrate xuống còn lối 40g/ngày
và tăng khối lượng chất đạm của thịt ăn vào. Trong tình trạng thiếu glucose
này, cơ thể bắt buộc phải làm thoái biến số mỡ dự trữ ra thành các acid
béo và gan sẽ chuyển chúng thành các chất ketones. Chất này là nguồn năng
lượng của cơ thể trong điều kiện ăn uống ít chất carbohydrate.
Hiện tượng sinh hóa này khoa học gọi là benign dietary ketosis và là căn
bản của Atkins diet.
Thuyết low carb của Atkins có vẻ ngược đời nên đã bị cộng đồng khoa học
chỉ trích thậm tệ và cá nhân Bs Atkins bị ngạo báng hết cỡ. Mặc dù vậy,
Low carb diet cũng được hằng triệu người Hoa Kỳ hoan nghênh, trong số
có nhiều tài tử Hollywood.
Họ nói Atkins diet đã thật sự giúp họ giảm cân một cách mau lẹ?
Bs Atkins và phe nhóm của ông ta đã trở thành triệu phú nhờ vào việc bán
sách chỉ dẫn phương pháp dinh dưỡng Low carb cũng và như nhờ vào sự khai
thác các cơ sở kinh doanh Atkins Nutritionnals. Ngày nay, phong trào dinh
dưỡng Low carb diet đã trở thành một lối sống mới đối với một số lớn người
tiêu thụ, cho nên kỹ nghệ thực phẩm và các hệ thống nhà hàng fast foods
như Mac Donald cũng nhảy vô ăn có, tạo ra vô số sản phẩm ít đường và bột
đường để mong giành giựt thị trường với các sản phẩm Atkins.
Beer low carb chai 12 oz chứa 2.5g carbohydrate và 97 calories, trong
khi loại beer regular có 13g carb. và 146 calories.
Vậy thực chất của low carb diet là gì? có tốt cho sức khỏe hay không?
Hầu như tất cả các nhà khoa học về dinh dưỡng đều chống đối mãnh liệt
phương pháp dinh dưỡng của Bs Atkins. Họ nói, low carb diet có thể có
hiệu quả ngắn hạn, nhưng rất nguy hiểm cho sức khỏe về lâu về dài.
Một chế độ nhiều đạm động vật, nhiều mỡ dầu nhất là cholesterol và chất
béo bão hòa sẽ dẫn đến các bệnh về tim mạch, làm nghẽn mạch máu, gây tai
biến mạch máu não và làm gia tăng nguy cơ xuất hiện của vài loại cancer.
Ngoài ra, một khẩu phần quá nhiều đạm động vật có thể rất có hại cho thận,
cho gan và dễ dẫn đến tình trạng loãng xương (osteoporosis). Vì thiếu
chất bột đường (gạo, bánh mì, pasta, ngũ cốc, đậu) và rau quả nên cơ thể
sẽ thiếu rất nhiều dưỡng chất thiết yếu như vitamins cũng như thiếu chất
xơ khác để có được một sự tiêu hóa tốt.
The American Heart Association cũng đã bày tỏ nỗi lo ngại của mình đối
với phương pháp Atkins. Dòng đời không phải lúc nào cũng bằng phẳng cả
đâu. Một biến cố quan trọng gần đây đã làm mọi người bàng hoàng và hoài
nghi về thuyết dinh dưỡng Atkins.
Ngày 8 tháng 4 năm 2003, cha đẻ của thuyết low carb diet trượt té trên
đường phố New York, bị hôn mê bất tỉnh trong 9 ngày rồi chết sau đó. Phúc
trình khám nghiệm cho biết nạn nhân 72 tuổi, rất béo phì cân được 258lbs
là sức nặng trên mức quy định sức khỏe, và rất có thể ông ta đã chết vì
bệnh tim. Lẽ đương nhiên, bà vợ và phe nhóm của Bs Atkins đã cực lực cải
chính và nói rằng nạn nhân đã chết vì bị chấn thương sọ não mà thôi. Theo
họ, ông có vẻ mập vì đã được tiếp quá nhiều dịch truyền? Họ nghi phúc
trình bệnh viện là âm mưu triệt hạ uy tín của Bs Atkins cũng như để đã
phá thuyết low carb diet mà thôi? Thật ra lúc còn sống, nhân một buổi
phỏng vấn Tv, Bs Atkins đã xác nhận là ông cũng có vấn đề tim nhưng mà
nhẹ thôi.
Không biết trong tương lai sẽ còn thuyết gì nữa đây? Ai cũng sợ bệnh,
ai cũng sợ chết hết, cho nên những gì nghe được, có vẻ hơi bùi tai và
hơi hợp lý một chút thì rất dễ bị mê hoặc.
Đường hóa học và các chất thay thế đường
Đây là những chất có vị ngọt nhưng tạo ra rất ít calories. Người ta chia
chúng ra làm 2 nhóm:
1)- Nhóm có tính dinh dưỡng (édulcorants nutritifs):
Xylitol, Sorbitol và Mannitol, là những chất được làm từ trái cây. Người
ta còn gọi những chất nầy là đường rượu (sucre alcoolique). Chúng có vị
ngọt, nhưng lại có thêm tính nhuận trường nữa. Ăn trên 30g/ngày có thể
bị tiêu chảy... Mỗi gram của các chất này chỉ cho ra có 2 calories, trong
khi đường cát cho ra 4 calo.
Các loại đường này không mấy phổ biến cho lắm, chỉ thấy được sử dụng trong
một số sản phẩm, chẳng hạn như trong kẹo chewing gum.
2)- Nhóm không có tính dinh dưỡng (édulcorants non nutrtifs):
Những chất này không tạo ra năng lượng, nhưng lại có vị ngọt gấp cả trăm
lần đường cát. Chúng thường được đựng trong các bao nho nhỏ màu xanh,
vàng hoặc hường để chúng ta bỏ vào café.
Kỹ nghệ thực phẩm cũng sử dụng các loại đường hóa học này để tạo vị ngọt
cho các loại sản phẩm nhược năng lượng (hypocaloric) và các thực phẩm
diet. Đây là những chất tổng hợp hóa học để tạo vị ngọt (édulcorant synthétique)
và thường được phân chia ra làm hai nhóm:
* nhóm thế hệ thứ nhất: saccharine, sodium cyclamate, aspartame.
* nhóm thế hệ thứ nhì: sucralose (Splenda), acésulfame-potassium (Sunnet,
Sweet One, Acek)), neotame, alitame.
Thông dụng nhất là chất aspartame mà chúng ta thấy trong các thức ăn thức
uống diet. Tuy nhiên cũng có dư luận cho rằng ăn thường xuyên các loại
đường hóa học sẽ không tốt cho sức khoẻ.
Phe chống đối đường hóa học quả quyết rằng chất aspartame gây nhức đầu
(migraine) cũng như có thể gây cancer não. Được biết một phần aspartame
sẽ chuyển thành methanol trong bao tử và chất nầy sau đó sẽ phân hóa thành
formaldehyde và acide formique là chất độc cho hệ thần kinh. Họ còn nói
là trong cơ thể aspartame còn bị phân cắt ra thành acide aspartique và
phénylalanine.
Đối với những người bị bệnh phenylketonuria (PKU), là một bệnh rất hiếm
thấy do sự lệch lạc của một gene, khiến cơ thể không tạo ra được enzyme
để khử chất phenylalanine, do đó chất nầy tăng nhiều trong máu và gây
tổn hại đến hệ thần kinh trung ương.
Thí nghiệm cho thấy, chất saccharine (Twin, Sweet N Low) ở liều lượng
thật lớn nó có thể gây cancer bọng đái ở loài chuột.
Ngày nay tại Canada, saccharine và sodium cyclamate (Sucaryl, Twin sugar)
bị rút ra khỏi danh sách các chất phụ gia và bị cấm sử dụng trong kỹ nghệ,
nhưng vẫn còn được cho phép sử dụng với liều lượng nhỏ để chúng ta tự
bỏ vào café.
Phe cổ võ chất aspartame lẽ đương nhiên là giới kỹ nghệ thực phẩm, nhà
nước, FDA, Health Canada, các trung tâm nghiên cứu trong các đại học,
National Cancer Institute Hoa Kỳ, Tổ chức Autorité Européenne de Sécurité
des Aliments EFSA, Tổ chức y tế thế giới OMS, tổ chức Lương nông FAO thuộc
Liên Hiệp Quốc...tất cả đều khẳng định là trong điều kiện sử dụng bình
thường, chất aspartame rất an toàn cho sức khỏe cũng như chẳng có mối
liên hệ nào với bệnh cancer cả. Được biết chủ nhân ông của aspartame là
đại tổ họp quốc tế Monsanto.
Trên thế giới, aspartame (Nutrasweet, Equal, Egal, Canderel...) được sử
dụng rộng rãi trong khoảng 6000 loại mặt hàng và sucralose có mặt trong
lối 4000 sản phẩm.
Ý niệm về sự an toàn hoặc không an toàn của đường hóa học rất thay đổi
tùy theo từng quốc gia. Alitame được sử dụng tại Mexique, Úc châu và Trung
quốc, nhưng Canada và Mỹ thì cấm... Riêng neotame, một chất tạo vị ngọt
anh em với aspartame thì được FDA Hoa kỳ chấp thuận từ 2002, nhưng Canada
thì chưa cho phép.
Nói chung, các nhà dinh dưỡng đều đồng ý là các loại đường hóa học có
thể giúp ích một phần nào cho con người, nhưng không thể xem chúng là
một giải pháp thỏa đáng để giúp ta có một hàm răng tốt, để giảm cân, hoặc
để kềm hãm bệnh tiểu đường.
Năm 2007 vừa qua, Bs Ramachandran Vasan, Hoa Kỳ, trong khảo cứu thực hiện
trên một nhóm 9000 ngàn người trung niên đã cho biết, là có sự liên quan
mật thiết giống như nhau, giữa sự tiêu thụ mỗi ngày trên một lon 355ml
sođa loại thường regular tức là có chứa đường và loại diet (không có đường
sugar free), cùng với sự xuất hiện của hội chứng biến dưỡng (metabolic
syndrome) như tăng mỡ vùng bụng, cao máu, tăng hàm lượng chất béo xấu
triglyceride, giảm hàm lượng chất cholesterol tốt HDL và tăng đường huyết.
Tất cả các nhà khoa học kể cả Bs David Jenkins (St Micheael’s Hospital
Toronto) đều bối rối trước khám phá quá mới mẻ nầy «Before we were saying
take the diet drink and you’re ok. Now we’re saying: watch it»...
Bs R.Vasan người thực hiện cuộc khảo cứu đăng trong tạp chí Circulation:
Journal of the American Heart Association cũng thắc mắc trước kết quả.
Ông ta đưa ra giả thuyết rất có thể những người uống một hai lon soda
một ngày đồng thời cũng là những người ăn nhiều calories, nhiều chất béo
bão hòa và nhiều trans fat đều là những chất béo xấu cũng như họ là những
người ù lì ít chịu hoạt động...(We really don’t khnow, this soda consumption
may be a marker for a particular dietary pattern or lifestyle. Individuals
who drinks one or more sodas tend to be people who have greater caloric
intake. They tend to have more of saturated fats and trans fats in their
diet, they tend to be more sedentary, they seem to have lower consumption
of fibre)...
Một khảo cứu khác do Ts Susie Swithers thực hiện tại Purdue Univ. Indiana
và được đăng trong tạp chí Behavioral Neuroscience cho biết thức ăn thức
uống nhược năng nghĩa là chỉ có chứa đường hóa học saccharine hoặc aspartame
đều có khuynh hướng làm xáo trộn chức năng nhận biết calories của não.
Bình thường khi ăn ngọt thật sự, cơ thể sẽ nhận biết ngay số calories
ăn vào đễ sau đó kích động biến dưỡng để đốt số năng lượng thặng dư và
tăng thân nhiệt lên.
Trường hợp sử dụng đường hóa học saccharine để tạo cảm giác ngọt giả tạo,
nhưng chẳng có calorie nào kèm theo thì cơ thể tăng nhiệt độ rất ít và
vì thế sẽ bị mập ra. Thí nghiệm đã được thực hiện trên loài chuột. Đây
là một giả thuyết rất mới mẻ và trái ngược với ý niệm cũ là việc sử dụng
các chất tạo vị ngọt hóa học như aspartame, saccharine để giúp giảm cân.
Cần nên đọc kỹ nhãn hiệu
Thông thường trên mỗi loại thực phẩm sản xuất theo lối công nghiệp đều
có liệt kê bản nguyên liệu (ingredients) sử dụng. Các chất nầy đều được
xếp theo thứ tự quan trọng từ nhiều tới ít, và từ trước ra sau. Các danh
từ tận cùng bằng chữ OSE là đường, như sucrose, fructose, dextrose, saccharose,
maltose…Đôi khi chúng ta cũng thấy ghi trên nhãn hiệu những câu có hàm
ý đặc biệt về một chất dinh dưỡng nào đó.
Tại Canada, cơ quan Kiểm traThực phẩm (CFIA) có trách nhiệm ấn định và
kiểm soát sự xác thực của các nhãn hiệu. Sau đây là một vài thí dụ:
*FAIBLE TENEUR EN SUCRE (Low sugar): không được chứa nhiều hơn 2g đường
cho một phần chuẩn hay xuất ăn (par portion, per serving)
*SANS SUCRE AJOUTÉ, NON SUCRÉ (No sugar added, unsweetened): sản phẩm
có thể chứa đường một cách tự nhiên, chẳng hạn như các loại nước trái
cây, nhưng ngoài ra không có một loại đường nào khác (như đường cát, mật
ong, mật đường) được thêm vào hết.
*SANS SUCRE (sugar free): không được chứa hơn 0.25g đường cho 100g sản
phẩm và cũng không được có hơn một calorie cho mỗi 100g. Loại thức ăn
nầy chứa ít đường và ít calo nhất và được xem là thực phẩm ăn kiêng diète.
*TENEUR RÉDUITE EN CALORIE: sản phẩm chứa 50% calorie ít hơn so với những
sản phẩm bình thường đồng loại.
*ALIMENT HYPOCALORIQUE: là những thực phẩm có số calorie giảm cũng như
không thể chứa hơn 15 calories cho mỗi phần chuẩn hay xuất ăn.
*SOURCE DE FIBRES ALIMENTAIRES: ít nhất phải chứa 2g chất xơ cho mỗi phần
chuẩn.
*SOURCE ÉLEVÉE DE FIBRES: phải chứa ít nhất 4g chất xơ cho mỗi phần chuẩn.
*SOURCE TRÈS ÉLEVÉE DE FIBRES: phải có ít nhất 6g chất xơ cho mỗi phần
chuẩn.
Khuyến cáo của cơ quan Liên Hiệp Quốc
Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) và Cơ Quan Lương Nông Quốc Tế (FAO) vừa phối
hợp nghiên cứu và đồng khuyến cáo mọi người nên cắt giảm số calories do
đường mang vào xuống dưới mức 10%. Nói một cách dễ hiểu, nếu tổng số nhu
cầu của một người là 2000 calories/ngày, thì calories do đường tinh chế
tạo nên phải thấp hơn 200.
Được biết, 1g đường cho 4 calories, 1 muỗng café đường có khoảng 16 calories
và 1 lon Coke regular chứa lối 9 muỗng đường tương đương với 145 calories.
Mục đích của Cơ Quan Liên Hiệp Quốc là nhằm giúp ngăn chặn phần nào các
loại bệnh mạn tính cũng như các bệnh về tim mạch, bệnh béo phì, bệnh tiểu
đường và một vài loại cancer.
Để duy trì một sức khỏe tốt, chúng ta cần theo đuổi một chế độ dinh dưỡng
ít dầu mỡ, ít đường, ít muối, không được dùng quá 2400 mg sodium hay 5g
muối tương đương với 1 muỗng café muối ăn trong 1 ngày.
Đồng thời cần phải ăn nhiều rau cải, trái cây tươi và nên vận động, tập
thể dục thường xuyên.
Chắc chắn là khuyến cáo nầy không làm hài lòng kỹ nghệ bánh kẹo và kỹ
nghệ nước ngọt rồi. Một tài liệu khảo cứu mới vừa được phổ biến trong
tạp chí JAMA, August 2004 cũng đưa kết luận là các loại nước ngọt classic
hay regular như Coke, Pepsi, Soda….vì chứa quá nhiều đường nên là một
trong nhiều nguyên nhân quan trọng làm gia tăng sự xuất hiện của bệnh
tiểu đường type II ở Hoa Kỳ.
Một khảo cứu đã làm nhiều nhà khoa học bối rối
http://www.medscape.com/viewarticle/570063
Từ trước tới giờ, các nhà khoa học vẫn cho rằng kim chỉ nam trong vấn
đề trị liệu bệnh tiểu đường là việc kiểm soát đường huyết glycémie để
đem nó xuống mức bình thường hoặc gần với mức bình thường cũng như việc
phòng ngừa các biến chứng về tim mạch do đường huyết cao gây nên.
Theo Association canadienne du Diabète, thì mức glycémie bình thường (sau
khi đã nhịn ăn 8 tiếng đồng hồ) phải ở mức thấp hơn 6.1mmol/L và nếu từ
7.0mmol/L trở lên là bị diabetes.
Còn theo American Diabetes Association, glycémie normale phải thấp hơn
110mg/dl, và nếu trên 126ml/dl là bị tiểu đường.
Tuy nhiên, một công trình khảo cứu về đường huyết vừa được phổ biến trong
Medscape Medical News Feb 12/2008 đã làm tất cả các nhà khoa học sửng
sốt và hết sức bối rối. Khảo cứu nầy được thực hiện tại Hoa kỳ từ nhiều
năm qua trên hơn 10.000 người trung niên hoặc ở lớp tuổi cao hơn đang
mắc bệnh tiểu đường type II.
Khảo cứu mang tên: Action to Control Cardiovascular risk in Diabetes (Accord).
Qua đối chiếu và so sánh kết quả của bốn năm theo dõi thí nghiệm thì họ
thấy trong nhóm bệnh nhân áp dụng phương pháp trị liệu tích cực để hạ
glycémie (intensive glycemic control arm) xuống được gần mức bình thường
thì chính trong nhóm nầy lại có số người bị tử vong vì bệnh tim mạch như
nhồi máu cơ tim cao hơn nhóm bệnh nhân đã theo đuổi một cách ít tích cực
và hời hợt trong việc kiểm soát đường huyết. Rõ ràng đây là kết quả trái
ngược với những gì khoa học mong đợi. Thí nghiệm đã bị đình chỉ ngay sau
đó.
Các giả thuyết được đưa ra để giải thích kết quả trên: tử vong thường
xảy ra ở nhóm bệnh nhân tuổi đã cao trên 62, đồng thời cũng đã mắc phải
bệnh về tim mạch như cholesterol cao hoặc có huyết áp cao từ trước đó,
cũng có thể do hiện tượng tương tác interaction giữa nhiều loại dược phẩm
với nhau, hoặc do sự kiện sử dụng các loại thuốc để làm hạ đường huyết
xuống một cách quá nhanh. Tuy vậy, các nhà khoa học vẫn duy trì nguyên
tắc làm hạ đường huyết xuống mức bình thường như một giáo điều trong việc
chữa trị bệnh tiểu đường.
Quả thật là điều khó giải thích rất bối rối cho mọi người!.
Kết luận
Thời đại nào, xã hội nào cũng thế, thức ăn ngọt vẫn dễ hấp dẫn mọi người
Tại Canada, từ 1986 đến 1996, các sản phẩm ngọt đã tăng vọt lên hơn 102%,
trong số này nước ngọt tăng hơn 5%.
Số người bị béo phì tăng lên một cách đáng ngại, 25% ở trẻ em và 50% ở
người lớn.
Công ty Coca Cola và Pepsi Cola không ngừng tìm mọi cách để xâm chiếm
thị trường, và khai thác thị hiếu hảo ngọt của dân chúng, đặc biệt là
giới trẻ em, sinh viên học sinh.
Các nhà dinh dưỡng thường xếp các loại thức ăn thức uống bán trong máy
(bánh, kẹo, chip, chocolat, Coca Pepsi, v.v...) vào nhóm tạp phẩm (junk
food), không bổ dưỡng gì hết vì chứa nhiều calorie rỗng (empty calorie),
nhiều đường, nhiều caffeine, nhiều gaz và chất hóa học...nhưng lại không
có hoặc có rất ít vitamins.
Sức mạnh của đồng tiền là như thế đó! Ai chết mặc ai, tiền ông bỏ túi.
Cuối cùng, cũng cần phải nói đến một loại vị ngọt cũng khá hấp dẫn đối
với một số các đấng mày râu bất luận tuổi tác, nhưng lại hay có tính hảo
ngọt thích mật, thích đường.
Nếu thuận nhân hòa địa lợi hay gặp hoàn cảnh thuận tiện, tiền bạc xủng
xỉn và cộng thêm một sinh lực dồi dào thì tính hảo ngọt lại càng dễ bộc
phát ra hơn nữa. Tuy không làm tăng đường huyết, nhưng nó lại làm tăng
adrenaline và nhịp tim nhiều lắm. Đôi lúc nó cũng có thể làm xáo trộn
luôn cả một mái ấm gia đình nữa.
Ôi hảo ngọt là như thế đó!
Tài liệu tham khảo:
* The glycemic index www.mendosa.com
http://www.mendosa.com/gilists.htm
*Montignac, Conseils en nutrition. www.montignac-intl.com
*Jennifer R Scott, An Overwiew to the Atkins Diet. May 06, 2007
http://weightloss.about.com/od/theatkinsdiet/a/atkinsoverview.htm
*AHA Scientific Position on Carbohydrates & Sugars. Feb 10,2008
http://www.americanheart.org/presenter.jhtml?identifier=4471
*Matthias B. Schulze et al, Sugar- Sweetened Beverages, Weight Gain, and
Incidence Of Type 2 Diabetes in Young and Middle-Aged Women; JAMA, August
25, 2004, No 8
http://jama.ama-assn.org/cgi/content/abstract/292/8/927
*Passport santé.net. Sucré sans sucre et sans danger?
http://www.passeportsante.net/fr/Actualites/Dossiers/DossierComplexe.aspx?doc=edulcorant_do
*CBC News. Diet soft drinks linked to health risks: study. july 24, 2007
http://www.cbc.ca/health/story/2007/07/24/sodapop-consumer.html
*Susie Swithers,Terry Davidson. Study: Artificial sweetener may disrupt
body’s ability to count calories. Behavorial NeuroScience, Purdue Univ.
Indiana. July 2004
http://www.purdue.edu/UNS/html4ever/2004/040629.Swithers.research.html
*AHA Dietary Guidelines. Feb 10, 2008
http://circ.ahajournals.org/cgi/reprint/102/18/2284.pdf
*Dr S.Hughes. Intensive-Glycemic- Control-Arm ACCORD Stopped.Medscape
Feb12, 2008
http://www.medscape.com/viewarticle/570063
*Bs Nguyễn văn Thịnh. Công trình nghiên cứu mới về bệnh đái đường làm
sửng sốt các thầy thuốc. Thời sự y học số 64. Yduocngaynay.com Feb 12,
2008
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr64.htm
*Bs Thú y Nguyễn thượng Chánh: Cây cỏ ngọt. khoahoc.net Dec 2006
http://www.khoahoc.net/baivo/nguyenthuongchanh/141206-caycongot.htm
Montreal, Feb 29, 2008
Bs Thú y Nguyễn thượng Chánh & Ds Nguyễn ngọc Lan
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần
xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |