Thuốc Mới: Ung Thư Máu, Bệnh Tim, Loãng Xương
Bác sĩ Trần Mạnh Ngô

Rituxan trị Ung Thư Máu (Chronic Lymphocytic Leukemia).
Ngày 18 tháng 2, 2010, FDA cho phép dùng thuốc Rituxan (Rituximab) cho một số bệnh nhân điều trị ung thư máu kinh niên Chronic Lymphocytic Leukemia (CLL). Được phép dùng cho bệnh nhân CLL bây giờ coi là được hoá học trị liệu lần đầu tiên, hoặc cho những bệnh nhân đã từng dùng nhũng thuốc khác trị CLL không thành công.
Rituxan là một kháng thể đơn dòng (monoclonal antibody), được điều chế bằng kỹ thuật sinh học (khác vơí kỹ thuật dùng hệ thống miễn dịch của bệnh nhân). FDA cho phép dùng Rituxan dựa theo kết quả 2 nghiên cứu. Kết quả thứ nhất khảo sát 817 bệnh nhân chưa từng được dùng hoá học trị liệu trước đây: bệnh nhân sống 8 tháng lâu hơn khi tổng hợp thuốc này vơí hoá học trị liệu, so sánh vơí bệnh nhân chỉ chữa bằng hoá học trị liệu không thôi. FDA phân tích kết quả nghiên cứu cho biết thuốc Rituxan thêm vơí hoá học trị liệu thông thường không có lợi cho người lớn tuổi (70 tuổi hay hơn). Tuy nhiên không thấy Rituxan có hại cho những người già này. Thử nghiệm thứ 2 bao gồm 522 bệnh nhân ung thư máu CLL đang diễn tiến chữa bằng những phương pháp hoá học trị liệu khác. Kết quả cho thấy nếu dùng Rituxan vơí hoá học trị liệu khác đang chữa CLL thì bệnh nhân sống thêm được 5 tháng. Muốn biết thêm chi tiết, đặc biệt những công phạt của thuốc Rituxan, xin vào www.FDA.org.
Chú thích: Rituxan là thuốc thứ 3 đã được FDA cho phép diều trị ung thư máu CLL kể từ năm 2008. Tháng 3 năm 2008, FDA đã cho phép dùng thuốc Treanda (benzamustine) trị ung thư máu CLL cho bệnh nhân trước đây chưa từng dùng thuốc trị liệu nào khác. Tháng 10 năm 2009, FDA cho phép dùng thuốc Arzerra (ofatumumab) trị CLL cho bệnh nhân đã được hoá học trị liệu trước đây nhưng không khỏi bệnh.

Giảm Nguy Cơ bệnh Máu Cục Vữa Động Mạch
Bệnh Nhân Tim Mạch Uống Aspirin hay những thuốc giảm Nguy Cơ Bệnh Máu Cục Vữa Động Mạch.
Trong báo American J. of Cardiology, 105: 445, 2010, Bs Christopher P. Cannon và các cộng sự viên tường trình bệnh nhân ngoại chẩn bị bệnh Máu Cục Vữa Động Mạch (Atherothrombotic) ở Mỹ uống Aspirin và những thuốc chống máu cục (Antithrombotic). Tham khảo 68,000 bệnh nhân ngoại chẩn ở Mỹ bị bệnh máu cục vữa động mạch, hoặc có nguy cơ bệnh máu cục vữa động mạch. 70% bệnh nhân được chữa bằng Aspirin, phần lớn ở miền Tây Trung Mỹ, và đại đa số là đàn ông, những người da trắng, và dưới 65 tuổi. Trong số những bệnh nhân dùng Aspirin, 18% uống thuốc trị tiểu cầu, và 6% uống thuốc loãng máu. Phân nửa bệnh nhân không uống Aspirin thì uống thuốc loãng máu hay thuốc chống tiểu cầu. 15% bệnh nhân không dùng thuốc chống tiểu cầu nào cả.
Tóm lại, 25% bệnh nhân bị bệnh tim mạch không uống Aspirin phòng ngừa, và 15% bệnh nhân chẳng uống thuốc chống tiểu cầu gì hết. Đây là một thí dụ cho thấy ngay cả ở một nước văn minh cũng không theo tôn chỉ uống thuốc triệt để mặc dù bệnh tim mạch là một trong những bệnh nguy hiểm nhất. Tất cả mọi người trong chúng ta nên hiểu biết y học nhiều hơn để giảm nguy cơ tử vong. Bài này giúp chúng ta để ý theo dõi bệnh nhân phòng ngừa nguy cơ bệnh tim mạch máu cục vữa động mạch.

Tác dụng Thuốc Teriparatide và Alendronate (hay cả 2 thuốc) vào Độ Loãng Xương phụ nữ mãn kinh. Bài này do Bs Joel S. Finkelstein và các cộng sự viên đăng trong báo J. Clinical Endocrinology xuất bản on-line ngày 17 tháng Hai, 2010.
Tham khảo 93 bệnh nhân hậu mãn kinh trong một nhà thương bị bệnh loãng xương nhẹ. So sánh cho bệnh nhân uống 10 mg Alendronate mỗi ngày, chích 40 µg Teriparatide dưới da mỗi ngày, hay dùng cả 2 thứ thuốc. Theo dõi 30 tháng. Bệnh nhân chích Teriparatide 6 tháng sau khi uống Alendronate.
Kết quả cho thấy mật độ xương lưng phụ nữ tăng cao hơn khi phụ nữ chỉ dùng thuốc Teriparatide so vơí bệnh nhân chỉ uống thuốc Alendronate, hay khi bệnh nhân dùng cả 2 thứ thuốc Teriparatide và Alendronate. Tương tự như vậy khi so sánh độ loãng xương ở cổ xương đùi thì thấy mật độ xương tăng cao hơn khi bệnh nhân chỉ dùng thuốc Teriparatide so với bệnh nhân chỉ uống thuốc Alendronate không thôi, hay khi bệnh nhân dùng chung cả 2 thứ thuốc Teriparatide và Alendronate. Tổng kết quả cho thấy Alendronate giảm khả năng tăng cao mật độ xương của Teriparatide, và giảm tốc độ luân chuyển xương phụ nữ.
Alendronate sodium hay Alendronic acid là một loại thuốc bisphosphonate dùng để trị bệnh loãng xương và một vài bệnh xương khác. Teriparatide là một loại thuốc tái tổ hợp của kích thích tố phó giáp trạng (parathyroid hormone) cũng dùng để điều trị vài loại bệnh loãng xương.

Bác sĩ Trần Mạnh Ngô

TAGS: Rituxan (Ritusimab), Ung Thư Máu, Bệnh Tim, Bệnh Máu Cục Vữa Động Mạch, Loãng Xương, Teriparatide, Alendronate, Tran manh Ngo

>>>back>>>

Thảo Luận Báo Y Khoa