 |
Tim
Lớn và Tiểu Đường, Sinh Tố D, Ung Thư Tuyến Tụy Tạng
Bác sĩ Trần Mạnh Ngô
Bệnh Tiểu Đường với Tim Lớn và
Xơ Tim
Theo Bs Lisandro Maya và F. J. Villarreal thì khoảng 8% có tim lớn khi
bị tiểu đường. Bởi vậy y khoa cần có những phương pháp chính xác để chuẩn
định khi bị tim lớn hay xơ tim do bệnh tiểu đường gây ra. Bài tường đăng
trong báo Journal of Molecular and Cellular Cardiology, 48: 524, 2010.
Hiện giờ siêu âm tim là phương pháp thông thường được dùng nhiều nhất
để định bệnh tim lớn do tiểu đường gây ra. Siêu âm là phương pháp tương
đối rẻ tiền. Ngoài ra còn có phương pháp chụp hình cộng hưởng từ trường
được dùng để định bệnh xơ cứng tim. Kính phổ quan và những chất phản quang
giúp phân tích những hoá chất biến dưỡng do tim và gan. Ngoài ra còn phân
tích những dấu ấn sinh học để phân tích thêm những thay đổi chức năng
tim do bệnh tiểu đường gây nên.
Đau tim do tiểu đường (diabetic cardiomyopathy) suy chức năng tâm thất
tim nhưng không bị bệnh xơ cứng động mạch vành tim (coronary atherosclerosis).
Bệnh nhân bị tâm thấy nở lớn, tế bào tim phì đại, xơ cứng tim, chức năng
tâm thu giảm (hay bình thường), chức năng tâm trương suy yếu.
Bốn nguyên nhân chính gây suy tim tiểu đường: 1) Xơ cứng tế bào nội mô
và tế bào dưới nôi mô động mạch tim. Hiện tượng xơ cứng tế bào nội mô
làm cho động mạch tim co nhỏ (microangiopathy). 2) Hiện tượng biến dưỡng
mô tim bất bình thường (myocardial metabolic abnormalities) gây hư hại
co dãn chức năng tim (cardiac contractile dysfunction). 3) Hệ thống thần
kinh cơ tim bị hư hại cũng làm hỏng chức năng cơ tim. Tế bào thần kinh
không thể điều chỉnh giữ chất đường làm suy chức năng tâm trương. Hư hại
thần kinh tim có thể gây hiện tượng thiếu máu cục bộ (ischemia). Do đó
tăng nguy cơ tử vong. 4) Suy giảm hiện tượng “ion” làm hư hại chức năng
tim.
Người già có sinh tố D cao giảm nguy cơ
tiểu đường và bệnh tim
Theo tin tức y học từ trường y khoa Warwich (do J. Parker và các cộng
sự viên đăng trong báo Maturitas, 65: 225, 2010) thì người già lớn tuổi
có mức sinh tố D cao giảm nguy cơ bệnh tim hay tiểu đường (43%). Phân
tích 28 nghiên cứu bao gồm 99,745 bệnh nhân kể cả đàn ông và đàn bà, trong
thơì gian từ 1990 tơí 2009. Phân nửa số nghiên cứu này ở Mỹ, 8 nghiên
cứu ở Âu Châu, 2 ở Iran, 3 ở Úc Châu và 1 ở Ấn Độ. Nguy cơ bệnh tim mạch
giảm 33%, nguy cơ bệnh tiểu đường giảm 55% và nguy cơ hội chứng biến dưỡng
giảm 51%. Hội chứng biến dưỡng bao gồm bệnh cao huyết áp, cao insulin,
nhiều mỡ tích tụ vùng háng, cao cholesterol, gây nguy cơ bệnh tim mạch,
tai biến mạch máu não và tiểu đường.
Cách Mới Truy Tầm Ung Thư Tuyến Tụy Tạng
Bs David Wong thuộc Đại Học Y Khoa UCLA phân tích 4 dấu ấn sinh học mRNA
trong nước bọt (nước miếng) cho 90 người, so sánh bễnh nhân ung thư tuyến
tụy tạng (pancreas cancer) vơí bệnh nhân viem tụy tạng kinh niên hay người
bình thường. Dấu ấn sinh học mRNA bao gồm 4 loại: KRAS, MBD3L2, ACRV1,
và DPM1. Kết quả thử nghiệm có độ nhạy cảm (sensitivity) là 90% và độ
đặc thù 95%, hơn tất cả những phương pháp thử máu hay phương pháp thử
nghiệm sớm truy tầm ung thư tuyến tụy tạng từ trước tơí nay. Kết quả nghiên
cứu do Bản Tin Đại Học UCLA phổ biến.
Tuyến tụy tạng hình ống, dài 6 phân Anh (inches), nằm xâu trong bụng,
bệnh cạnh ruột non tá tràng, đằng sau bao tử. Tuyến tụy tạng tiết phân
hoá tố tiêu hoá đồ ăn và tiết chất insulin dùng đường làm năng lượng và
kiểm soát mức đường trong máu. Có 2 loại ung thư tuyến tụy tạng: 1) ung
thư tuyến (adenocarcinomas, exocrine tumors) từ những tế bào trong ống
tuyến tụy tạng (pancreas ducts) và 2) ung thư từ tế bào sản xuất kích
thích tố (hormone-producing cells, endocrine cancer).
Bs Trần mạnh Ngô
TAGS: Diabetic cardiomyopathy, Vitamin D, Cardiovascular diseases, Diabetes,
Pancreas cancer, Tran manh Ngo
>>>back>>>
|
 |