| Ba
Phương Pháp Điều Trị Tiểu Són
Bác sĩ Trần Mạnh Ngô
Phương Pháp thứ nhất: Chích Chất Keo Điều Trị
Bệnh Tiểu Són.
Bs Phillippe Zimmern thuộc Đại Học Y Khoa Southwestern tiểu bang Utah
cho biết thử nghiệm chích chất keo để điều trị bệnh tiểu són cho thất
trong số 93 bệnh nhân có 31 bệnh nhân thuyên giảm bệnh, và khỏi bệnh.
Tác giả và các cộng sự viên đã dùng máy siêu âm 3 chiều để ước định vị
trí chất keo và lượng chất keo còn đọng ngoài thành ống dẫn tiểu (ureter).
Nếu hình siêu âm cho thấy sau lần chích đầu nếu chửa được thuyên giảm
tiểu són và nếu lượng chất keo còn quá ít đã chích chất keo lần thứ hai.
Nhưng nếu lượng chất keo đã đủ rồi mà bệnh nhân vẫn chưa thuyên giảm tiểu
són thì phải dùng phương pháp khác. Chích chất keo có thể là phương pháp
kế tiếp trị tiểu són nếu bệnh nhân vẫn bị tiểu són hay tái phát tiểu són
sau khi giải phẫu mà không khỏi. (Journal of Urology, February 2009).
Phương Pháp thứ hai:
Trong bài nghiên cứu thứ hai cho biết phụ nữ giảm cân lượng có thể giúp
giảm triệu chứng tiểu són. Bs Lesiee Subak nghiên cứu 226 bệnh nhân nằm
trong chương trình là những phụ nữ mập bị ít nhất 10 lần tiểu són trong
một tuần lễ. Chương trình giảm cân lượng trong 6 tháng bao gồm cách ăn
uống kiêng khem, tập thể dục, thay đổi hành động. Kết quả cho thấy phụ
nữ giảm cân lượng giảm triệu chứng tiểu són. Theo Bs Subak thì có thể
dùng phương pháp thể dục trước nhất trong việc điều trị tiểu són cho phụ
nữ có cân lượng cao hay mập. (New England J. Med., 360: 481, 2009).
Phương Pháp thứ ba:
Trong nghiên cứu thứ ba, Bs Samina Tahseen và đồng nghiêp dùng một loại
băng dán làm hẹp đường dẫn tiểu để điều trị tiểu són. Thử nghiệm cho 58
phụ nữ tiểu són theo dõi 13 tháng. Tổng kết quả cho thấy 43% bệnh tiểu
són (urge urinary incontinence) khỏi hẳn, 36% triệu chứng tiểu són thuyên
giảm. Trong loại tiểu són (stress predominant leakage) thì 43.5% khỏi
hẳn và 43.5% đỡ tiểu són. Trong loại tiểu són (urge predominant leakage)
thì 43% khỏi hẳn và 28.5% khá hơn. Loại tiểu són (stress incontinence)
khỏi hẳn 77% và khá hơn 19%. (Obstet Gynecol, 113: 617, 2009).
Bác sĩ Trần Mạnh Ngô
>>>back>>>
|