 |
Thiếu
Máu, erythropoietin, erythropoiesis stimulator (2)
Bs Nguyễn Tài Mai
Trong một bài dẫn nhập trước, đã đề cập đến vấn đề hiện đang được bàn
cãi rất rộng rãi tại Hoa Kỳ: dùng Erythropoietin trong trường hợp thiếu
máu. Đây là nhóm thuốc gọi chung là "erythropoiesis stimulator"
"thuốc kích thích tủy xương tạo máu đỏ".
Ở Hoa kỳ, đây là các thuốc (1) hiệu ứng ngắn hạn: Procrit (Epoetion alpha),
Epogen (Epoetin alpha), và (2) dài hạn hơn: Aranesp (Darbepoetin alpha).
Các thuốc này được dùng hàng ngày tại các clinic máu hoặc trại bệnh máu
tại HKỳ (note: Procrit, Epogen, Aranesp là trade names).
Các thuốc này được chấp thuận cho dùng trong những trường hợp sau:
(1) thiếu máu đỏ vì suy thận trì tính (chronic renal failure).
(2) thiếu máu trong trường hợp HIV đang chữa với zidovudine.
(3) thiếu máu đỏ vì chữa bằng hoá chất (chemotherapy-induced anemia).
(4) cho các thuốc này để giảm nhu cầu phải truyền máu trước khi mổ (reduction
of allogeneic blood transfusion pre-operatively).
Các tiêu chuẩn để ĐỊNH BỆNH (diagnostic criteria) cuả các bệnh thuộc nhóm
1-4 nói trên đều rất rõ rệt, và không cần đi sâu vào chi tiết. Ngoài các
b.nhân thuộc các nhóm nói trên (1-4), hiện nay các hematologists ở HKỳ
cũng dùng các thuốc này cho những bệnh nhân bị myelodysplasia (dị sinh
tủy). Đây là một chương hiện đang bành truớng rất nhanh trong hematology,
vì định bệnh myelodysplasia còn tương đối mới (truớc 1980, hầu như không
có literature gì về chứng này), và sự chữa trị nay vẫn chưa đồng nhất,
và vẫn còn khá khó khăn.
Vậy sẽ bắt đầu loạt bài này bằng cách ôn lại triệu chứng này.
Xin mời qúy vị đọc vài bài ngắn trong hematology literature hiện nay về
vấn đề này, truớc khi đi đến tóm luợc. Đây là vài bài tuơng đối mới, lựa
ra trong hàng trăm articles về vấn đề này trong literature của thế giới
(tiếng Anh) về myelodysplasia (chứng tủy mọc sai, dị sinh tủy).
Trong kỳ tới, tôi sẽ xin tóm lược ý chính của mỗi bài, rồi sau đó sẽ viết
tóm lược về cách dùng những thuốc này hiện tại.
Xin nêu các bài đó ra đây để qúy vị cùng đọc cho rõ:
(1) M. Sekeres et al: "A decision analysis to determine the appropriate
treatment for low-risk Myelodysplastic syndrome" CANCER: Vol 109:6,1125-1132,
March 15, 2007, (bài này từ Clevelend clinic, Ohio, USA).
(2) B.Cheson et al: "Report of an international working group to
standardize respone criteria for myelodysplastic syndromes" Blood:
Vol 96: 12, 3671-3674, BLOOD 1 Dec 2000, (bài này từ toàn thế giới: US,
Israel, Spain, The Nethelands)
(3) NCCN Clinical practice guidelines in Oncology: Myelodysplastic syndrome,
V2. 2008 9/6/200, copyrighted: National comprehensive cancer network:
www.nccn.org. (USA)
12 th 1, 2008, AM
erythropoiesis stimulator (3)
Về vấn đề myelodysplasia, thì đây là một
vấn đề khá mới, đây không phải là một bệnh mới, nhưng chỉ vì trước đây
(trước 1980) chứng này chưa được mô tả một cách rõ rệt - và không thống
nhất về các tiêu chuẩn định bệnh.
Chứng này ngày xưa (trước 1980 chẳng hạn) thường
gọi là Pre-leukemia, nhưng bây giờ không ai gọi như thế nữa vì biết rằng
chữ này sai (nói PRE-leukemia tức là muốn ám chỉ sau này sẽ thành Leukemia).
Nay ta biết rằng những bệnh nhân này ĐA SỐ không chuyển sang leukemia,
mà tủy xương chỉ suy dần đi (bone marrow failure) rồi cứ thế phải truyền
máu cho đến khi bệnh nhân chết. Hơn nữa, nếu dùng chữ Preleukemia thì
cũng gộp cả chứng tủy hóa sợi (myelofibrosis) vào đấy, vì một số bnhân
myelofibrosis sau này rồi cũng chuyển sang thành ung thư máu cấp tính.
Mà gộp vào Preleukemia không được, vì bnhân myelofibrosis đa số chết vì
suy tủy, chứ không chết (final events) vì leukemia.
Năm 1982, để thống nhất ngôn ngữ và tiêu chuẩn định
bệnh ung thư máu cho toàn thế giới, mới có buổi họp toàn thế giới và sau
buổi họp đó, có bài đem ra đăng báo cho thế giới sự thoả thuận với nhau
v/v ung thư máu (gọi là Working Group classification hay FAB classification)
(French American British classification). Các tiêu chuẩn này sau khi dùng
trên toàn thế giới được thay đổi đi một chút năm 1985. Gần đây (1999)
tổ chức WHO (World Health Org) đề nghị thay đổi một chút nữa các tiêu
chuẩn để định bệnh myelodysplasia.
Các điểm thay đổi chính: v/v định nghiã ung thư myeoloid cấp tính (acute
myeloid leukemia): đưa tầm mức blasts trong tủy xuống 20% (thay vì hồi
xưa 30%) (bình thường trong tủy chỉ có dưới 5% blasts mà thôi), và đưa
chứng chronic myelocytic monocytic leukemia vào hội chứng myelodysplasia.
Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên Khoa Bệnh Máu và Ung
Thư
Theo Bs Nguyễn Tài Mai thì nếu quý vị
muốn phổ biến bài viết này, không cần xin phép tác giả. Nếu ai có câu
hỏi gì xin ghi lại bài viết và Bs Mai sẽ trả lời quý vị.
Xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |