Đọc NewEnglJlMedicine Jul 5, 2007
Bs Nguyễn Tài Mai

Vừa đi rounds sáng thứ bảy xong (bắt đầu rounds lúc 5:30 sáng), ghé thư viện, đọc lại NEJM tuần trước, thấy có mấy bài:
1. có 3 bài editorials về Rosiglitazone: tin không vui. (Đây cũng bất thường, hiếm khi thấy đến ba editorials về một thứ thuốc).
2. trang 9 : In vitro fertilization with Preimplantation genetic screening. Bài này từ Amsterdam, the Netherlands. Đây là một kỹ thuật định bệnh mô tả lần đầu tiên năm 1990: lấy 1, hoặc 2 tế bào từ embryo để làm genetic testing (xin coi editorial trang 61: rationale cuả việc này là để screening out aneuploid embryos, và như thế, sẽ giảm việc mất thai nhi, khiến tăng live birth rate. Bài này cho thấy một kết quả thất vọng (Không tăng đậu thai, trái lại còn giảm xuống sau khi in vitro fertilization ở mẹ đã lớn tuổi).
3. Trang 39: Bài quan trọng về Trastuzumab. Một bài review từ Memorial (ở Mỹ trong giới chuyên môn, gọi "Memorial" có nghĩa ám chỉ "Memorial Sloan Kettering Cancer Center", New York, một nhà thương chuyên ung thư nổi tiếng quốc gia và thế giới, tại New York City, teaching cuả Columbia).
Bài này review một tiến triển quan trọng trong oncology: cách đây 20 năm: tìm ra receptor mới trong ung thư vú: HER 2, hoặc cũng gọi là HER-2 Neu (đọc theo tiếng Việt-"Hơ tu niu") Đây là một trong bốn Human epidermal growth factors: HER1, HER2, HER3, HER4. Đây là các transmembrane tyrosine kinase receptors. Các receptors này ở màng tế bào và chịu trách nhiệm điều hợp sự tăng trưởng, sống sót, dính (adhesion), phân biệt (differentiation) của tb ung thư vú.
Dấu hiệu (signals) của HER2 khiến cho tb tăng trưởng qua lối RAS-MAPK và làm cho tb ung thư không chết (inhibit cell death) qua lối mTOR .
Dù rằng overexpression của HER2 đã được mô tả trong nhiều ung thư cuả loài người, gene amplification khá hiếm, ngoại trừ ung thư vú. Hiện nay thuốc chống lại HER 2 chỉ được dùng trong ung thư vú.
Trastuzumab (tức là Herceptin, do hãng Genetech chế tạo) là một monoclonal antibody đã humanized. (Gần đây có một monoclonal antibody mới hơn: Pertuzumab). Trong ung thư vú, có khoảng 20-30% bnhân positive v/v overexpression của Her2-Neu vì thế ý niệm này trong hơn 5-10 năm qua đã thay đổi sự suy nghĩ trong việc chữa ung thư vú (ngoài surgery và radiotherapy, medical oncologists dùng chemotherapy, hormonotherapy, và bây giờ như thế cọng thêm chữa bằng antibody).
Trastuzumab thích hợp vào cách suy nghĩ cổ điển trong việc chữa ung thư vú ra sao:
1. Việc dùng Trastuzumab trong adjuvant therapy: tức là dùng thuốc này CÙNG LÚC (concurrently) với chemotherapy agents đã cho thấy tăng disease free survival (DFS) so với dùng chemotherapy mà thôi hoặc dùng Trastuzumab SAU khi đã cho chemo. Đây là nói đến những bnhân high risk, tức là nodes positive.
2. Hiện nay văn chương oncology thế giới chưa thể nói rõ được phải cho Trastuzumab trong bao lâu (Trial HERA - HercerptinAdjuvant trial đang study hơn 5000 bnhân: cho Trastuzumab mỗi ba tuần trong 1 hay 2 năm).
3. Cho những bnhân ung thư đã chuyển di (moderate to high risk, ung thư tiến rất nhanh, đã có visceral mets, ER PR neg): những trường hợp này thì rõ ràng là chemo và Trastuzumab đang cho hiệu quả tốt (dĩ nhiên Her-2 Neu phải positive bằng immuno assay, sau đó bằng FISH (Fluorescent In Situ Hybridization) .
Bài này cũng review side effects của Trastuzumab, điều đáng để ý là hypersensitization và cardiotoxicity. Nói về cardiotoxicity: thì hiện nay vẫn dùng LVEF (left ventricular ejection fraction) để theo dõi, nhưng guidelines v/v này không rõ (không rõ như anthracycline). Các con số cần nhớ về cardiotoxcicity: (27% toxicity nếu dùng cả anthracycline + Trastuzumab, 15% nếu dùng Trastuzumab với Paclitaxel, 5%: chỉ dùng Trastuzumab mà thôi). Rất Hiếm thấy marrow depression, rụng tóc, ói mửa với Trastuzumab.
Điểm đáng lưu ý là hiện nay (2007) vẫn chưa rõ là những bnhân early-stage breast cancer, hạch negative, ER PR positive, Her 2 Neu positive: có nên dùng Trastuzumab không: chưa ai rõ...(nên cho bnhân của mình vào các trials).
Đây là một bài quan trọng, review lại những điểm đã biết và chưa biết về một thuốc còn tương đối mới trong oncology (5-10 năm qua mà thôi) và một ý niệm mới (antibody in oncology) (ý niệm mới phát triển trong 20 năm qua mà thôi).
trang 53 có một case khá hay về DVT (deep venous thrombosis) (May Thurner syndrome) (năm 1851 Virchow đã mô tả anatomy v/v này- Virchow quả thật là một y sĩ xuất chúng, cả thế kỷ mới được 1 nguời). Đọc xong bài này, mới giật mình là hàng ngày thấy về DVT's chân trái, mấy case compression của common Iliac Vein compression bên trái mà mình đã KHÔNG tìm ra!!!

Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên Khoa Bệnh Máu và Ung Thư

>>>back>>>

Thảo Luận Báo Y Khoa