 |
Đọc
NewEngJlMed 7 tháng 6, 2007
Bs Nguyễn Tài Mai
Số nói trên có vài bài quan trọng:
trang 2361: Natural
history and outcome in Systemic AA Amyloidosis.
Bài này từ London (England). Bài này nói về natural history cuả AA amyloidosis
(khác với AL: tức là amyloidoisis do light chain disease). Các tác giả
nêu mấy điểm quan trọng: sự correlation cuả serum amyloid A protein (SAA)
với tiến trình cuả bệnh, việc theo dõi bệnh dùng whole body serum amyloid
P component scintigraphy và complication chính cuả bệnh này là renal failure.
(SAA là một acute phase reactant - bệnh chính gây nên AA amyloidosis trong
bài này là chronic inflam. arthritis (60%) .
trang 2388 "Explaining the decrease
in US deaths >from Coronary Dis (1980-2000)".
Bài này từ CDC (Georgia, US) và Liverpool (England)
(note: greatest impact on mortality from coronary heart dis: chính do
lượng total cholesterol)
trang 2399 có bài review về concepts hiện tại về việc ung thư vú: "Current
concepts: Local Rx and survival in Breast cancer".
Bài này tóm lược nhưng suy nghĩ rất trái ngược về
ung thư vú trong hơn 50-100 năm qua.
Xin nói rõ ra: có hai ý niệm rất tương phản về ung thư vú:
(1). có
phải ung thư vú cũng như một số ung thư khác: tức
là ung thư phát xuất từ một chỗ, rồi từ đó "lan" ra, có tuần
tự: từ nơi gần (local recurrence) rồi truyền đi xa hơn (visceral metastases)
(chữ để mô tả lối đó : "in contiguity" (hoặc "in a contiguous
manner") hoặc là
(2). ung thư vú khi
tìm ra, thì đã đi rất xa rồi - và cục (lump)
ở vú chỉ là một biểu hiệu (presentation) cuả ung thư (một trong nhiều
chỗ) (chữ để tả ý niệm đó: breast cancer is a SYSTEMIC disease")
Hai ý niệm đó đưa đến một kết luận hoàn toàn khác nhau v/v phải làm gì
cho bệnh nhân:
(1) nếu
nó là "tuần tự nhi tiến" ("in contiguity") thì phải
diệt cho mạnh, cho mau, cho chắc ung thư ngay ở điểm phát xuất vì nó chưa
"chạy" đi) (tức là phải cắt bỏ vú, radiation etc...: chưã trị
mãnh liệt tại chỗ)
(2) nếu
khi tìm ra bệnh (mammogram, hay sờ thấy cục) nó đã là một bệnh toàn diện
(systemic) rồi, thì phải chưã toàn diện ngay (tức là cho chemotherapy
để diệt ung thư toàn cơ thể - trừ não: chemotherapy thường không vào não
đuợc: "bloođbrain barrier"), và bởi vì nó đã là toàn diện ngay
từ lúc đầu (de novo), thì trị bệnh ở điểm xuất phát (local control ) trở
thành kém quan trọng hơn ...
Ý kiến thứ nhất (local disease) là ý kiến cuả trường phái Halsted (tức
là đã gần 100 năm: Halsted chủ trương total mastectomy). Cho đến khoảng
cuối 1970 thì bắt đầu có người nghi ngờ . Dẫn đầu cho sự nghi ngờ này
là concept của Bernard Fisher và với ý kiến cuả các đồng nghiệp ở I-Ta-Li
: adjuvant chemotherapy và systemic chemotherapy băt' đầu thành hình (Ý
kiến về hormonal manipulation thì còn trễ hơn nưã: khoảng bắt đầu 1980).
Bài này là một bài ôn lại, đáng đọc, dù rằng không có gì mới lạ đối với
oncologists.
trang 2372 có bài "Adjuvant
Mitotane treatment for Adrenocortical Carcinoma"
(có bài editorial đính kèm trang 2415) Sẽ viết về
bài này sau ...
trang 2407: có môt. case về clinical problem-solving mà tác giả đề tựa
là : "a handcarried diagnosis"
tác giả có ý vừa đùa vưà miả mai: tác giả muốn nói: "nghe cho kỹ",
hỏi bệnh cho cẩn thận thì chính bnhân họ cầm tay (handcarried) đưa cho
mình cái định bệnh đấy - định bệnh đã sờ sờ trước mắt (do bnhân đem đến),
mà mình nhắm mắt không chịu đọc, vì hỏi không kỹ, nhận xét không cẩn thận,
cho nên nghĩ không ra diagnosis !!!
Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên Khoa Bệnh Máu và Ung
Thư
>>>back>>>
|
 |