 |
Đọc
Báo NewEngJnlMed, số 6 tháng 9, 2007
bác sĩ Nguyễn Tài Mai
Báo NewEnglJnlMed số 6 tháng 9, 2007 có
vài bài:
Trang 965 : "Efficacy and Safety of Epoetin Alfa in critically
Ill patients".
Bài này từ HKỳ. Các tác giả muốn trả lời câu hỏi: Nếu cho Epoetin Alfa
cho b.nhân ở intensive care Units (ICU) thì có giảm được lượng máu đỏ
truyền hay không? Dứt điểm chính để xét (primary end point) cuả study
này là % bnhân nhận máu đỏ (transfusion) trong khoảng từ ngày 1 đến 29.
Ba dứt điểm phụ (secondary endpoints) là:
(1) số đơn vị máu phải truyền từ ngày 1 đến ngày 42,
(2) tử suất ở thời điểm ngày 29 và ngày 140
(3) sự thay đổi về Hemoglobin từ điểm bắt đầu chữa trị (baseline) so với
ngày 29.
Study này gồm 1460 bnhân, multicenter, cả bnhân medical lẫn surgical.
Các tác giả đưa đến kết luận là lối chữa trị này (40 nghìn units Epoetin
mỗi tuần, trong 3 tuần) không giảm được lượng máu đỏ phải truyền, dù rằng
lối này có thể giảm được tử suất trong các bnhân bị trauma phải nằm tại
ICU.
Bài này có kèm Lời bàn (editorial) trang 1037.
Note (lời bàn cuả Bs Nguyễn
Tài Mai): Bài này dễ đọc, nhưng khó giải thích các kết quả của studỵ.
Khó khăn chính là ở các điểm sau:
(1) Chưa có sự thống nhất trên thế
giới về liều lượng Epoetin, có nghiã là: liều và khoảng cách giữa các
liều (hàng tuần) có tối hảo (optimal) không. Liều 40 nghìn units hàng
tuần chỉ là một common practice và chấp nhận được (acceptable), nhưng
không có study rõ rệt - cho nên ở HKỳ, các hematologists dùng các liều
khác nhau.
(2) Khoảng thời gian study (primary
endpoint) là 29 ngày nhưng red cell survival là 120 ngày, như vậy cắt
(cut off) ở khoảng 29 ngày có đúng physiologic không?
(3) nếu không giảm được số lượng
máu truyền cho bnhân, thì tại sao mortality giảm. Nghiã là cơ chế nào
khiến mortality giảm?
Tóm lại một bài đưa đến nhiều câu
hỏi, và vẫn chưa đủ câu trả lời. Chính vì thế trong editorial (trang 1037),
tác giả của bài Editorial đã cẩn thận nêu rõ rằng vẫn cần các nghiên cứu
randomized nữa .
Trang 1009: Clinical practice: "Hypertriglyceridemia"
Một review quan trọng về triglyceride. Hiện nay đã có chỉ dẫn (guidelines)
về chữa hypercholesterolemia, nhưng literature vẫn chưa rõ rệt về hypertriglyceridemia.
Bài này ôn lại triệu chứng này, và bàn về sự chữa trị (hay không chữa).
Trang 1029 có một bài bàn về infectious
disease đáng để ý: "A stitch in time"
(Note: Tựa đề có ý chơi chữ , lấy
từ tục ngữ trong tiếng Anh "A stitch in time, saves nine" (một
mũi khâu lại đúng lúc đỡ phải khâu chín (9) mũi nữa): Case này cho thấy
định bệnh trong trường hợp bnhân cứ sốt (mà literature cũ thường gọi là
FUO - fever of unknown origin) lắm khi rất khó. Trong trường hợp này,
người bàn chuyện chính đã truy ra được bệnh chỉ nhờ môt. điểm quan trọng:
luôn luôn chú trọng đến cấy vi trùng, và phải suy xét vi trùng thường
từ đâu ra. (Trường hợp này, vi trùng chính là Group C Strep - lúc đầu
tiên cấy máu 6 lần trong 3 ngày cho thấy Enterococcus faecalis. Bài này
cũng cho thấy sự than phiền của nguời bàn là đúng: việc cho trụ sinh một
cách "bừa bãi" lúc đầu tiên đã làm việc định bệnh hóa ra mờ
tối và khó khăn. Kết luận: bệnh nhân sốt lâu dài vì bị một fistula (mạch
lươn) nối giữa ống plastic (để thay nhánh aorta) và phần cuối của duodenum.
Sau khi nghi ngờ có fistula (để giải thích tại sao có Streep group C trong
máu): khi mổ bụng ra, tìm thấy fistula này, và chỉ cần khâu lại ("một
mũi") là khỏi bệnh.
(Note riêng của Bs Nguyễn
Tài Mai): lắm khi oncologists/hematologists được gọi lên để hỏi xem có
phải FUO do ung thư tiềm ẩn (chưa tìm ra) khiến bnhân cứ thế sốt ... Đa
số các trường hợp thì không phải ung thư hoặc bệnh máu, những vẫn vì do
nhiễm trùng.
Nếu có là do ung thư , thì thường là lymphoma; vì thế các "tests"
tiên khởi vẫn là: hỏi bệnh sử thật cẩn thận, khám bnhân thât. cẩn thận,
rồi sau đó nếu negative, thì làm CAT scan của phổi và bụng (đi tìm lymphadenopathy);
và có khi phải cấy tủy xương -đã thấy 2 cases nhuộm tủy xương thấy Mycobacterium
(Lao). Thường thường "lỗi" (khi ngó lại !!!) vẫn là không chịu
hỏi bệnh sử cho thật chi tiết và không khám bnhân thật cẩn thận...
Note:
khi rảnh sẽ review những trường hợp gửi sang oncology mà câu hỏi chính
là: "bnhân có đang bị ung thư tiềm ẩn không?". Các lý do chính
để gửi sang oncology: bệnh khớp, bệnh nhân mất kí, sốt kéo dài, vết ở
ngoài da (skin lesion) có phải là biểu hiện của ung thư tiềm ẩn v.v...
Câu hỏi này rất nhức đầu (cho oncology !!!). Trong những trường hợp này,
oncologists sẽ đi truy tầm bệnh để trả lời (có hay không)(hoặc "chưa"
thể trả lời được ở thời điểm đó), mà còn phải tiếp tục theo dõi ...
Xin hẹn kỳ sau và kính chào. Tối hôm qua mới nhận được tờ NEJM mới vừa
ra tuần này, nhưng liếc qua đã thấy mấy bài khá hay về thrombophlebitis,
chưa đọc kịp, sẽ xin viết sau.
Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên
Khoa Ung Thư và Bệnh Máu
Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài viết
này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |