Đọc Báo Y Khoa New EngJnlMed, th 5, 2008
Bác sĩ Nguyễn Tài Mai

NewEnglJnlMed số 29 th 5, 2008 có mấy bài:

2378: Current concepts: Hepatopulmonary Syndrome. Bài này từ Mayo clinic, Minnesota, USA và từ Barcelona, Spain.
Các tác giả ôn lại hội chứng Hepatopulm synd, lần đầu tiên mô tả khoảng 1977 dù rằng autopsy findings đã được mô tả năm 1966. Hội chứng này đòi hỏi phải có: bệnh gan, dãn mạch máu phổi và suy hỏng về oxygenation (liver disease, pulm vascular dilatation, oxygenation). Làm sao để tìm pulm vasc dilatation: Contrast-enhanced TTE (transthoracic Echocardiogram). Clinical manifestations không có gì đặc thù: đáng để ý: orthodeoxia ( O2 Sat giảm 5% khi bệnh nhân từ vị trí nằm đổi sang đứng) hoặc platypnea: vì có VQ mismatch. Tác giả cũng đề cập tới một triệu chứng liên hệ: Portopulm hypertension; nhưng triệu chứng này hoàn toàn khác (vasoconstriction, proliferation of endothelium, in situ thrombosis ). Trong HepatoPulm Synd: các thử nghiệm nhiệm vụ phổi (pulm function tests PFT's) cho thấy giảm khả năng tán oxygen từ phế bào sang máu ( trong PFT's thử bằng cách: diffusion capacity for carbon monoxide - CO).
Median survival: 24 tháng, 5-yr survival rate: 23 %. Lý do chết: các biến chứng cuả bệnh gan. Pathobiology: trương dãn (dilatation) các mạch máu phổi (capillary and precapillary), có theory về việc nitric oxide.
Chữa: không có medical treatment, chỉ liver transplant, và O2 supplement. Strongest predictor of death: PAO2 50 mmHg hay thấp hơn, và lung scan, brain scan uptake 20 % hay hơn (normal uptake for brain: < 6%).

Trang 2389: Case records of Mass Gen'l (Massachusetts General Hosp: một trong các teaching hosps cuả Harvard Med School):
A 63 - y.o. man with metastatic Renal Cell carcinoma. Bài grand round này muốn nói tới các tiến bộ về chưã trị cuả ung thư thận: hiện nay vẫn là một nan y. Đối với ung thư thận đã chuyển di: Cho đến cách đây độ hai năm, không có thuốc gì, chỉ chữa bằng immunotherapy (high dose intravenous interleukin -2 )
(note riêng cuả NTM: Các bnhân chữa bằng Interleukin-2 (IL-2) đều phải đưa vào Intensive care unit để cho thuốc này bởi vì biến chứng nguy hiểm nhất của thuốc là capillary leak syndrome: đưa đến shock và cardio vasc collapse; response rate cho thuốc này này rất kém)
Hai năm qua, bắt đầu có thuốc mới: antiangiogenic therapy (một chương mới cuả oncology):
(1) antibody cho VEGF (bevacizumab) (có nơi cho thuốc này cùng với Interferon: Âu Châu và HKỳ)
(2) samll molecule inhibitor cuả tyrosine kinase receptors: Sunitinib, Sorafenib
(3) inhibitor of mTOR: Temsirolimus.
(Note: metastatic renal cell carcinoma thường chết trong vòng 10-13 tháng- bnhân này sống được 3 năm).

Bs Nguyễn Tài Mai

Disclaimer: bài này qúy vị có thể phổ biến tự do, không cần xin phép tác giả (Nguyễn Tài Mai), chỉ cần đề: bài do BS Nguyễn Tài Mai, đăng trên diễn đàn y sĩ ngày 1 tháng 6 năm 2008 (tôi không giữ lại bản đã viết, cho nên nếu có câu hỏi xin kèm bài này để dẫn chứng). Việc chữa bệnh từng bệnh nhân riêng biệt dĩ nhiên hoàn toàn tùy thuộc y sĩ điều trị, y sĩ máu, y sĩ ung thư của trường hợp đó.

Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên Khoa Bệnh Máu và Ung Thư

Xin ghi rõ nguồn: Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Thảo Luận Báo Y Khoa