New Engl Jnl Med Feb 5, 2009
Bác sĩ Nguyễn Tài Mai

tr. 563 : J Tol et al: Chemotherapy, Bevacizumab, and Cetuximab in metastatic colorectal cancer.
Bài này từ các trung tâm y khoa ở The Netherlands.
(study trên 732 bnhân)
Từ đây trở đi cho đến hết là lời bàn cuả NTM:
Khi ung thư colo rectal đã chuyển di mà không cắt ra được nưã (unresectable) thì không còn hy vọng chữa khỏi hẳn, và chữa bằng chemotherapy đã thay đổi rất nhiều trong suốt 25 năm qua.
Mới đầu chỉ có 5-FU (response rate chỉ có 15 %, duration of response thường chỉ được 3 tháng), sau đó khoảng 1985 thêm Leucovorin. Từ 1996 đến nay, có thêm các thuốc: capecitabine, irinotecan và OxaliPlatin.
(Vì khó nhớ, Oncology thường cọng tên các thuốc lại, rồi đặt ra một tên gọi chung cho dễ nhớ: chẳng hạn FOLFIRI (FOLinic acid, Fluorouracil IRInotecan); FOLFOX (FOLinic acid, Fu, OXaliplatin), CapOX (CAPecitabin OXalipaltin) (đây là các combinations thường dùng hiện nay trong colorectal). Các combinations này đã kéo dài được đời sống: chẳng hạn ở stage III (lymph node positive); nếu không cho chemo, 5 year survival là 55%; nhưng nếu cho chemotherapy với FolFox, thì 5-yr survival là 70%.
Trong vài năm qua có thêm Bevacizumab (là một anti-vascular endothelial growth factor - viết tắt VEGF) (tức là một monoclonal antibody, một antiangiogenesis agent).
Gần đây lại có anti-epidermal growth factor (EGFR) Cetuximab; nhưng thuốc này có hiệu quả ra sao trong colorectal Cancer thì literature trên thế giới không rõ rệt.
Vì thế, trong bài này: Các tác giả muốn xem nếu cọng thêm Cituximab vào thì có thay đổi được dự hậu hay không.
Study này gồm 732 bnhân tại The Netherlands, Chia ra làm hai cánh (2 arms) (một phase III study):
Cánh A: Capecitabine, oxaliplatin, Bevacizumab.
Cánh B: 3 thuốc nói trên, cọng thêm CETUXIMAB.
Chu kỳ cho chemo: 21 ngày.
KẾT QỦA rất thất vọng:
Cọng thêm CETUXIMAB vào khiến GIẢM progression-free survival từ 10,7 tháng xuống 9,4 tháng (median progression-free survival decreased from 10.7 months to 9.4 months).
(note: Progression free survival - hay còn gọi DFS (disease free survival) tức là thời gian kể từ lúc chấm dứt chemo (thí dụ tháng 1/2008), mà staging studies cho thấy ung thư đã biến mất, cho đến khi ung thư trở lại (thí dụ tháng 7/2008): vậy DFS là 6 tháng. Sau khi ung thư đã trở lại, nhưng bnhân vẫn còn sống cho đến cuối tháng 12/2008 mới mất, thì khoảng từ tháng 1/2008 đến hết tháng 12/2008: 12 tháng đó gọi là overall survival.
Cái DFS quan trọng hơn overall survival vì đây (DFS) mới đích thực là thời gian ung thư hoàn toàn bị chemotherapy "giết" (và từ khi ung thư trở lại cho đến khi chết: khoảng thời gian này: quality of life - tôi dịch "sống cho ra sống" - kém) (cho nên phải cẩn thận khi đọc statistics: endpoints ở đâu? Disease free survival hay overall survival).
Cọng thêm CETUXIMAB cũng làm ngắn medial overall survival lại (overall survival: đã giải thích như trên): giảm từ 20,3 tháng xuống 19,4 tháng.
Đây là một kết quả đáng thất vọng, và cơ chế làm cho bnhân mất sớm hơn hiện nay chưa ai rõ.
Chắc chắn sẽ cần các studies trong tuơng lai để giải quyết câu hỏi này.
NTM

Bs Nguyễn Tài Mai viết thêm: NEJM/ Primary Ovarian Insufficiency :
Thỉnh thoảng có bnhân hỏi: "tôi có bị tắt kinh sớm không" "ý kiến cuả BS v/v nguyên nhân và chữa trị ra sao?"
Trang 606 New Engl Jnl Med Feb 5, 2209 có bài review về chuyện này:
Note: "Primary ovarian insufficiency is the preferred term for the condition that was previously referred to as premature menopause or premature ovarian failure"
NTM (2/ 3/ 2009)

Disclaimer: bài này qúy vị có thể phổ biến tự do, không cần xin phép tác giả (Nguyễn Tài Mai), chỉ cần đề: bài do BS Nguyễn Tài Mai, đăng trên diễn đàn y sĩ ngày 3 tháng 2 năm 2009 (tôi không giữ lại bản đã viết, cho nên nếu có câu hỏi xin kèm bài này để dẫn chứng).
Việc chữa bệnh từng bệnh nhân riêng biệt dĩ nhiên hoàn toàn tùy thuộc y sĩ điều trị, y sĩ máu, y sĩ ung thư của trường hợp đó.

Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên Khoa Bệnh Máu và Ung Thư

Xin ghi rõ nguồn: Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Thảo Luận Báo Y Khoa