Đọc Báo NewEngJlMed, số 3, tháng 7, 2008
Bs Nguyễn Tài Mai

Tờ NewEnglJnlMed tuần này, số 3 th 7, 2008 có vài bài:

trang 7: Intensity of Renal Support in Critically Ill patients with Acute Kidney Failure
Bài này từ hệ thống nhà thương cựu chiến binh HKỳ và Nat Inst of Health (Ụ Pittsburg và Yale)
Tại sao phải làm study? : trong 60 năm qua không ai rõ cách tốt nhất để thay thế cho nhiệm vụ thận (renal -replacement therapy) trong trường hợp suy thận cấp tính trong những bệnh nhân nặng ở nhà thương.
Cách nghiên cứu (Methods) (Cách các tác giả làm để trả lời câu hỏi) : chia những bnhân nặng, bị suy thận cấp tính cần thay nhiệm vụ thận ra làm hai nhóm:
(a) một nhóm lọc máu 6 lần một tuần cùng với low efficiency dialysis và lọc liên tiếp 35 mg/kg cơ thể - BW- body weight ) (gọi là nhóm can thiệp mạnh - intensive treatment hoặc intensive intervention)
(b) một nhóm can thiệp nhẹ hơn (less intensive treatment) : chỉ lọc máu tuần 3 lần và 20 ml/kg BW).
Điểm phán đoán chính : (Điểm cuối chính để xét nghiệm kết quả) (primary end point): chết vì bất cứ lý do gì ở ngày thứ 60.
Kết luận học hỏi được: can thiệp mạnh hay nhẹ không khác nhau về kết quả: không giảm tử suất, không khá hơn trong việc phục hồi cơ năng thận, không giảm được mức độ suy hỏng cuả các cơ quan khác (did not decrease mortality, improve recovery of kidney function, or reduce the rate of nonrenal organ failure).
(nói tóm tắt : a negative study)
Đây là một vấn đề quan trọng trong intensive care units (ICU's) : Trong ICU, khoảng 5% bnhân cần lên máy lọc máu, và tử suất trong nhà thương ở các bnhân này là 50-80% - Lý do chính phải lên máy lọc thận tức là bị acute tubular necrosis : tổn thương chính gây ra suy thận : thiếu máu - ischemia (80%). Trong study này, 4340 bnhân được nhận vào study, loại ra chỉ còn 1124 bnhân hội đủ điều kiện để study (chia ra làm hai cánh -arms - của study : 563 bnhân chữa theo lối can thiệp mạnh, 561 bnhân chữa theo lối can thiệp nhẹ : chết trong vòng 60 ngày giống nhau : hai bên đều có khoảng 50% đã chết (odd ratio : 1.09; 95 % CI : 0.86-1.40 p value : 0.47 ). Complications chính trong khi chưã: hypotension.

Trang 21 có bài từ Pháp và Austria (hơn 37 tác giả) : Vasopressin and Epinephrine vs. Epinephrine alone in cardiopulm Ressuscitation.
Kết quả : không khác nhau gì

Trang 31: Motesanib Diphosphate in Progressive Differentiated Thyroid Cancer.
Bài này từ Boston US, Houston US, Seattle US, California US, Texas US, France, Switzerland, Denmark, Italy.
Loại study: Đây là phase 2 study, open-label. 93 bnhân. 61 % papillary carcinoma. Tất cả đều không còn cách chữa nào khác (radioRx, Surg, radioiodine đều đã thất bại, ung thư đang tiếp tục tiến - disease progression).
Liều: 125 mg Motesanib PO mỗi ngày cho đến 48 tuần hoặc cho đến lúc thấy ung thư cứ thế tiến (thất bại) hoặc không chịu đuơc hiệu ứng phụ.
Cách xét đoán xem ung thư có tiến triển hay không : CAT scan, MRỊ Objective responses cũng như trong cách xét đoán thuờng lệ trong việc chưã ung thư: CR, PR (complete respone, Partial response).
(giải thích cuả NTM : trong oncology : CR : tức là ung thư không còn nhìn thấy đươc. Trên CT hoặc MRI : hoàn toàn biến mất, zero chẳng hạn từ 1 cm xuống zero; PR : tức là ung thư - đo theo chiều lớn nhất cuả bướu- đã nhỏ lại nhưng vẫn còn lớn hơn 50% so với lần đo trước - (tức là từ 1 cm nay đã giảm xuống 0.75 cm), Stable : tức là hồi truớc 1 cm, nay cũng 1 cm, Progression : truớc 1 cm , nay 1.5 cm) (nói cách khác: CR, PR , Stable : đều có nghiã cách chưã trị đó đã "thắng", Stable cũng có nghiã là "thắng" trong ung thư, vì nếu không chưã thì ung thư có thể đã tiếp tục lớn lên - Progression : tức là "thua")
Kết quả 93 bnhân vào study, 32 bnhân uống thuốc cho đến 48 tuần, median f/u (follow up) 50 tuần : hầu như tất cả bnhân ung thư đều đã chạy : phổi , gan , hạch . Không có CR (complete respone) , được 13 bnhân PR - partial resp (13 bnhân, tức là 14 % , 95 confidence interval CI 7.7 -22.7, 67 % được stable disease.
Biến chứng thường thấy : iả chảy, tăng áp mạch, mệt mỏi, mất kí

Bs Nguyễn Tài Mai
Note: có Y Sĩ nào trên Diễn DĐàn muốn viết một loạt bài về thống kê y khoa (statistics in medicine) không - Nếu không thuộc statitstics thì khó có thể hiểu rõ văn chương y khoa đuợc. Mỗi tuần chỉ bàn về một cách tính cuả statistics, duới một năm sẽ bàn xong (chẳng hạn confidence interval là gì - Kaplan Meier estimate như thế nào, tại sao p value lại <0.05 ...). Nếu có vị nào đứng mũi chịu sào phía đó, tôi xin tình nguyện viết thêm.
Note: tôi không biết cách đưa những dấu hiệu toán học vào bài viết bằng tiếng Việt trên In tờ nét.

Disclaimer : bài này qúy vị có thể phổ biến tự do, không cần xin phép tác giả (Nguyễn Tài Mai), chỉ cần đề : bài do BS Nguyễn Tài Mai, đăng trên diễn đàn y sĩ ngày 4 tháng 7 năm 2008 (tôi không giữ lại bản đã viết, cho nên nếu có câu hỏi xin kèm bài này để dẫn chứng). Việc chữa bệnh từng bệnh nhân riêng biệt dĩ nhiên hoàn toàn tùy thuộc y sĩ điều trị, y sĩ máu, y sĩ ung thư của trường hợp đó.

Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên Khoa Bệnh Máu và Ung Thư

Xin ghi rõ nguồn: Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Thảo Luận Báo Y Khoa