NEJnlMed 13th3,2008: tr1160
EGFR antagonists in cancer treatment
F.Ciardiello et al - Bài này từ I-ta-li
Bs Nguyễn Tài Mai

(I) Lý thuyết : T.bào ung thư mọc tự nó (autonomous) và không chế ngự (dysregulated proliferation) đuợc. Vì hai cơ chế: tạo ra các phân tử làm cho tế bào cứ thế mọc (growth factors) hoặc thúc đẩy cho điểm thu tiếp (receptors) trên màng tế bào; khiến cho receptors nhận đuợc các growth factors này dễ hơn. Cả hai yếu tố này sẽ thúc đẩy, lẫy cò (trigger) một chuỗi dấu hiệu trong tế bào (intracellular signals) đưa đến tăng sinh cuả tế bào ung thư (proliferation), thúc đẩy tạo ra mạch máu mới (angiogenesis) và từ đó, chuyển di (metastasis)

Đa số ung thư epithelial ở loài người là do sự thúc đẩy (functional activation) cuả "growth factors" (yếu tố làm mọc) và các điểm thu tiếp (receptors) thuộc gia đình (family) Epidermal Growth Factor Receptor (EGFR).

Vì thế muốn chống tế bào ung thư, sẽ phải tìm cách chống EGFR. Sau 20 năm tìm các chế thuốc chống EGFR, nay có các thuốc chống 4 lọai ung thư: Ung thư phổi tb không nhỏ (non small cell lung ca), squamous cell đầu và cổ (head and neck), ungthư ruột già và ruột thẳng (colo rectal cancer), ung thư tụy tạng (pancreatic cancer).

Note của NTM:
(1) tôi dịch receptors là các "điểm tiếp thu" (hoặc "điểm nhận" cũng được).
(2) Trong ung thư gọi chung các ung thư từ cổ trở lên là head and neck cancer, nghiã là các ung thư cổ và đầu ngoài bộ phận thần kinh ra (except brain tumors); không tách nó ra dù rằng histopathology khác nhau vì thường cách chữa trị (management ) giống nhau (lymphatic drainage giống nhau: surgical approach: cách chữa bằng giải phẫu - tuơng tự)
(3) Về chưã trị trong ung thư, chia ung thư ruột già ra làm hai đoạn:
(3a) đoạn từ bờ hậu môn (anal verge) đi ngược lên đến độ 11-12 cm: đoạn này gọi là rectal (rectum:ruột thẳng: (Latin: rectum: thẳng - nói tiêng Tàu "trực" tràng làm gì cho nó khổ, sao không nói ngay khúc ruột này nó thẳng)(Tiếng Anh: "direct": chỉ huy, giử cho mọi việc thẳng thắn - director - do latin: directus).
(3b) Còn đoạn từ 11-12 cm trở lên cho đến cecum thì gọi là colon (vì chữa trị hai loại ung thư này khác nhau). Tại sao lại 11-12 cm?: vì đây về anatomy là chỗ mà bên ngoài ruột già, màng bao bụng (peritoneum) bắt đầu lật ngược lên (reflexion of the peritoneum) . Tức là ruột non (small intestine) đổ xuống đến đó mà thôi. Việc này có ý nghiã rất quan trọng trong anatomy và về radiotherapy cũng như về lối ung thư ruột thẳng chuyển di (khác với ruột già colon).

(II) 4 EGFR hiện nay dùng để chữa ung thư:
(1) erlotinib: (là một EGFR Tyrokinase Inhibitor) ung thư phổi tb không nhỏ (non small cell ca lung), cọng với Gemtitabine để chưã pancreatic cancer
(2) Gefetinib (EGFR Tyrokinase Inhibitor): FDA Mỹ chấp thuận 5/2004 nhưng 6/2005: rút lạị thuốc này không được dùng ở Âu Châụ. Nhưng đuợc chấp thuận ở Á châu.
(3) Cetuximab (monoclonal antibody): ung thư ruột già, ruột thẳng, ung thư đầu cổ
(4) Panitumumab (monoclonal antibody): 3rd line: colorectal.

Note cuả NTM: Vài điểm đáng nhớ :
(1) nổi mẩn (rash) khá thuờng thấy ở anti-EGFR (nhìn giống như mụn "trứng cá" - acnea - ở toàn thân (cả ở da đầu), rất khó chữa biến chứng về da này, steroid không khỏi. Nhưng điểm lạ lùng đáng nhớ: càng bị nổi mẩn nhiều thì chứng tỏ thuốc càng có hiệu quả (một phản ứng hiếm thấy trong oncology).
(2) rất khó biết truớc thuốc sẽ có hiệu quả ở bnhân nàọ có một số tests có thể làm để đoán:
(2a) EGFR protein protein expression: test này kém
(2b) EGFR gene mutation: test này có thể predict được trong một nhóm nhỏ các các bnhân: gốc Á châu, đàn bà, adaenocarcinoma, người ung thư mà chưa từng hút thuốc .
(2c) Tăng số copy cuả EGFR: FISH (fluorescence In situ Hybridization) cho thấy test này positive trong 25-40% bnhân.
Hiện nay khó khăn là ở chỗ lưạ ra bnhân nào sẽ phản ứng thuận lợi với các thuốc EGFR antagonists. Số phản ứng thuận lợi đó còn rất thấp (15-20%), và chỉ kéo dài đời sống được thêm vài tháng.
Tên thuốc (trade name) ở HKỳ về các thuốc EGFR Antagonists:
(1) Erlotinib : TARCEVA
(2) Gefitinib : IRESSA (chấp thuận tại Hkỳ tháng 5, 2004, nhưng bị rút lại tại HKỳ tháng 6, 2005).
(3) Cetuximab: ERBITUX
(4) Panitumumab: VECTIBIX

Note: sẽ viết về ALIMTA (một thuốc mới trong ung thư phổi tb không nhỏ - non small cell ca of Lung).

Disclaimer: bài này qúy vị có thể phổ biến tự do, không cần xin phép tác giả (Nguyễn Tài Mai), chỉ cần đề: bài do BS Nguyễn Tài Mai, đăng trên diễn đàn y sĩ ngày 19-20 tháng 3 năm 2008, (tôi không giữ lại bản đã viết, cho nên nếu có câu hỏi xin kèm bài này để dẫn chứng). Việc chữa bệnh từng bệnh nhân riêng biệt dĩ nhiên hoàn toàn tùy thuộc y sĩ điều trị, y sĩ máu, y sĩ ung thư của trường hợp đó.

Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên Khoa Bệnh Máu và Ung Thư

Xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Thảo Luận Báo Y Khoa