 |
A
Bloody Mystery
Bác sĩ Nguyễn Tài Mai
Đọc New England Jnl Med Nov 5, 2009
Trang 1887: Clinical Problem-solving:
A Bloody mystery. Bài này từ Boston, Harvard Med School, (Adam
Cuker et al).
Đàn bà 62 tuổi chảy máu ở nướu răng sau khi periodontal
scaling ở 2nd molar hàm dưới (thủ thuật này làm 5 giờ truớc đó). Dù đè
ở vùng đó, và chườm nước đá, vẫn không cầm máu được.
6 tháng trước, lúc làm một periodontal procedure khác,
cũng chảy máu như vậy, và phải đè suốt 6 giờ chảy máu mới ngưng.
Bệnh nhân không có bệnh sử chảy máu dễ dàng (no bleeding
diathesis), không thấy máu ở phân, không đái ra máu, không đau bụng, không
mẩn ngứa, không đau khớp, không sốt, không khó thở, không vàng da, không
nhức đầu.
Bnhân có uống một viên Aspirin - acetaminophen - caffeine
2 giờ trước khi làm thủ thuật chữa răng nói trên. Bnhân chỉ uống một thứ
thuốc dài hạn: Thiazide. Bnhân có một đứa con trai, đẻ theo lối vaginal,
không có biến chứng gì sau khi đẻ. Bệnh nhân có cục máu ở tĩnh mạch sâu
cách đây hai mươi năm, khi còn uống thuốc ngừa thai. Không có bệnh sử
về ung thư.
Lời bàn của NTM: đây là một trường hợp
thường được nha sĩ gửi sang hematologist hỏi ý kiến tại sao bnhân chảy
máu không cầm được.
Câu hỏi đầu tiên là bnhân có bị chảy máu lâu dài
trong những giải phẫu trước đây không, và nếu là đàn bà: thì có bị chảy
máu không cầm được sau khi sinh đẻ? Trước đây có bị trauma không (đụng
xe, ngã, gẫy xương) không, rồi máu cứ thế chảy không?
Bệnh sử như nêu trên cho thấy bnhân không có bệnh sử chảy
máu quan trọng -
Đứng trước trường hợp cháy máu lâu hơn bình thường, thì
câu hỏi kế tiếp nên nghĩ đến là tách ra việc chảy máu này do thụ nhập
(xảy ra sau này, acquired) chứ không phái đẻ ra đã có sẵn (hereditary).
Và rồi cũng nghĩ xem lối chảy máu cúa bnhân có phải do
(1) các yếu tố tiên khởi (primary hemostasis - tức là các rối loạn về
platelets: thiếu platelet (thrombocytopenia) (quantitative), hoặc đủ platelet
nhưng nhiệm vụ của platelet sai hỏng (qualitative defect). hoặc (2): là
do sai hỏng về các yếu tố đông máu (coagulation factors).
Sai hỏng về các yếu tố đông máu thì lại tách ra: có phải
di truyền (hemophiliac) hay do thụ nhập? (coagulation factor inhibitors)
(inhibitors: thụ nhập: acquired - đẻ ra chưa bị, sau này mới bị: thường
do lymphoma, viral infection, autoimmune disorders).
Trường hợp này bnhân có uống Aspirin, nhưng liều nhỏ như
thế không đủ sức làm hoàn toàn tê liệt platelet (qualitative defect).
Như vậy sau đó sẽ phải khám bnhân (đi tìm xem có
hepatomegaly, splenomegaly, lymphadenopathy (kiếm các bệnh máu: lymphoma,
leukemia), hay có jaundice hay không (tìm bệnh gan: vì một số coagulation
factors do gan tạo ra), có đau khớp hay không (đi tìm lupus anticoagulant
- nhưng lupus anticoagulant làm cho bnhân đông máu hơn, chứ không chảy
máu), xem có petechiae, ecchymosis (tức là đóan xem có bị severe thrombocytopenia
hay không), nhìn cổ họng xem tonsils và "Waldayer's ring" ra
làm sao (đi tìm lymphoma).
Sau khi khám xong, thì chỉ cần làm 3 tests của phòng thí
nghiệm: Prothrombin time, Activated Partial thromboplastin time (aPTT),
và đếm platelet, rồi sẽ đóan được cơ chế cháy máu.
Nếu những tests nói trên bình thường (tức là loại ra được
platelet disorders và inherited coagulation factor deficiencies), thì
phải làm một tests mà trong hematology chỉ gọi tắt là "mixing 50:50"
(hoặc "1:1" mixing) ("pha 1:1" ) (chỉ tốn có hai phút):
pha plasma của bnhân (50%) vào với plasma bình thường (50%), rồi sau đó
lấy phần đã pha này, làm lại test aPTT: nếu in vitro mà máu đông như bình
thường (tốn độ 25-35 giây đã đông): thì rõ ràng đây là inhibitors cúa
coagulation factors như trong trường hợp lupus anticoagulants.
(Tiếp tục trình bệnh):
Khám cơ thể hoàn toàn bình thường, tb máu trắng 6200/mm3 (normal) (49%
neutrophils, 37% lymphocytes, 13% monocytes), Hematocrit 31% , MCV 93
fl (tức là normocytic anemia), platelet count: 352,000/mm3 (normal) .
Creatinine 1.4 mg/dL (hơi cao) (normal chừng 0.8 - 1.2 ) BUN 18 mg / dL.
Calcium 10.2 mg/dL . Total Protein 8.6 g/dL, Albumin 3.9 (tức là globulins
4.7 g/dL) Urinalysis: không thấy máu, không thấy Protein
Prothrombin Time: 13.7 giây (normal), a PTT 49.6 giây (normal 13.8 - 36.6
giây).
(lời bàn cúa NTM): đến đây không thấy splenomegaly, không
thấy lymphadenopathy, nhưng tại sao bnhân lại thiếu máu, mà globulins
lại tăng, aPTT cho thấy máu chậm đông, Platelet bình thường.
Có tác giả làm bleeding time hay làm platelet aggregation
để xem functions của platelet ra sao, nhưng đa số hematologists không
"tin" những tests này (bởi vì khó reproducible các kết quả:
làm đi làm lại một tests nhiều lần mà lại cho ra các kết quả khác nhau:
không reproducible được, không tin được).
Về các tests đông máu PT, a PTT thì như sau:
aPTT kéo dài, PT normal: rối loạn các factors VIII, IX,
XI, Von willebrand, Heparin
aPTT normal, PT dài: rối loạn yếu tố VII, bệnh gan,
Warfarin, thiếu vitamin K
aPTT dài, PT cũng dài: rối loạn Prothrombin, fibrinogen,
factor V, factor X, DIC. Argatroban, liều Heparin, Warfarin qúa cao.
Vậy ở bnhân này (aPTT kéo dài), sẽ phải đo factors VIII,
IX, và đi tìm xem có von Willebrand's.
Nhưng dù có tìm được các rối loạn đông máu vì những yếu
tố nói trên vẫn không giải thích được tại sao bnhân thiếu máu, mà globulins
lại tăng - Vì thế bắt buộc sẽ phái đi xuống lab nhìn phết máu (nếu bnhân
da đen, đi tìm sickle cells chẳng hạn), xem morphology cúa máu đỏ (red
cells) ra sao.
Nếu Globulins tăng, thì sẽ phái làm serum protein
electrophoresis, quantitative immunoblobulins, imnmunoelectrophoresis
(xem tăng globulins có do monoclonal gammopathy không). Mà nếu tăng monoclonal
gammopathy thì phái tách ra có phải là monoclonal gammopathy of unknown
significance (MGUS's) hay là myeloma, lymphoma.
Vì thế bnhân này, cuối cùng rồi sẽ phải lấy tủy xương ngay.
(tiếp tục trình)
Kết quả đo factor VIII activity: 20% (quá thấp (normal trên 50%) (dễ nhớ:
đối với các coagulation factors: cứ trên 50% thì máu phải đông được bình
thường), von Willebrand factor antigen level 22% (normal trên 50%) ristocetin
cofactor 14% (normal trên 50%). Gel electrophoresis cho thấy mất high-molecular-weight
forms. Làm mixing 50:50: máu đông được bình thường in vitro.
(lời bàn của NTM):
như vậy ta có bằng chứng bnhân bị von Willebrand's (vW) disease. Nhưng
nếu bị von Willebrand, thì tại sao lần đẻ trước không chảy máu, vì thế
vW ở bnhân này là thụ nhập (xảy ra sau này) (acquired) chứ không phải
bẩm sinh - Test mixing 1:1 trở lại bình thường cho thấy đang có factor
deficiency do cơ chế kìm hãm (inhibitor).
Vậy thì đến đây phải giái thích cơ chế chảy máu ở bnhân
này do:
(1) thiếu von Willebrand factor (2) nhưng tại sao lại thiếu
máu, và lại tăng globulins.
Tức là hỏi xem có gì liên hệ giữa hai cơ chế (1) và (2)?
Hiện nay đã có các mô tả vW liên hệ đến lymphoproliferative
disorders (tức là lymphoma , CLL ...) và myeloproliferative disorders.
Vì thế bước kết tiếp sẽ phải hỏi ngay là tủy xương ra sao?
(tiếp tục trình)
Serum protein electrophoresis cho thấy tăng gamma globulin 1.91 g/dL (cho
dễ nhớ: gamma glob trên 1700 mg/dL là bất thường), và immunofixation cho
thấy đây là IgG kappa (lượng IgG là 2050 mg/dL (normal chỉ ở độ 1600).
(Lời bàn của NTM): đến
đây thì rất nghi là bnhân đang bị myeloma, và chắc chắn muốn biết tủy
xương ra làm sao; vì định bệnh myeloma là ở tủy xương.
(tiếp tục trình) Tủy xương cho thấy 20% tế bào tủy là plasma
cells.
(Lời bàn của NTM): (tủy
xương bình thường chỉ có 1-2% là plasma cells), tủy xương đã chứng minh
được rằng bnhân này đang bị myeloma - Vậy thì đi
ngược lại: Bnhân này đang có plasma cell dyscrasia (chữ này để chỉ chung
myeloma, plasmacytomas...), khiến cho có acquired von Willebrand's disease.
Vì bị vW và thiếu factor VIII cho nên mới chảy máu không cầm được ở nuớu
răng...
Người đọc : NTM
A bloody mystery (tiếp theo)
À quên viết tiếp:
Diagnosis cúa bnhân này là myeloma (hồi xưa hay gọi là multiple myeloma,
nhưng nay chỉ nói tắt), vì thế chữa chảy máu cho bnhân này là chữa myeloma.
Chữa myeloma thì hiện nay có nhiều thuốc hơn cách đây 10 năm, và kết quả
cũng khá hơn xưa. Bnhân này có thể chữa bằng Thalidomide. Nhưng ngay lúc
này, để cầm máu ngay, thì dùng Desmopressin, chỉ một liều thôi, cũng đủ.
Cho high dose Immune globulin, hoặc steroids là những lối khác.
NTM
Disclaimer: bài này qúy vị có thể phổ biến tự do,
không cần xin phép tác giả (Nguyễn Tài Mai), chỉ cần đề: bài do BS Nguyễn
Tài Mai, đăng trên diễn đàn y sĩ ngày 5 tháng 11 năm 2009 (tôi không giữ
lại bản đã viết, cho nên nếu có câu hỏi xin kèm bài này để dẫn chứng).
Việc chữa bệnh từng bệnh nhân riêng biệt dĩ nhiên hoàn toàn tùy thuộc
y sĩ điều trị, y sĩ máu, y sĩ ung thư của trường hợp đó.
Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên Khoa Bệnh
Máu và Ung Thư
Xin ghi rõ nguồn: Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |