Asthma (NewEngJMed, April 9, 2009) – Ovarian Cancer
Bác sĩ Nguyễn Tài Mai

Trang 1487, New EnglJnlMed số mới nhất April 9, 2009 có bài "Efficacy of Esomeprazole for treatment of Poorly controlled Asthma".
Bài này từ Amer Lung Assoc Asthma Clinical Research Centers.
(Ohio, US; Canada, Washington U.; Johns Hopkins, Maryland; Emory, Atlanta)
có editorial trang 1551 từ Tokyo, Japan.

Thoáng qua: treatment with proton-pump inhibitors does not improve asthma control. Bài này theo dõi 402 patients, và họ có làm ambulatory esophageal pH-monitoring. Trong bài này, các tác giả dùng liều khá cao: Esomeprazole, 40 mg ngày hai lần. Trong bài này các tác giả dùng định nghiã "poor asthma control": giảm ít nhất 30% peak flow rate trong 2 ngày liên tiếp.
Trong editorial, các tác giả nêu GERD (gastroesophagel reflux) thấy trong 10-20 % population ở US, và khoảng 5% ở Asians. Prevalence của asymptomatic acid reflux in patients with asthma ở khoảng 62%.
Các tác giả trong editorial cũng speculated các lý do tại sao esomeprazole đã thất bại. Họ cũng review các limitations cuả 24-hr ambulatory pH monitoring. (định nghiã acid reflux: pH dưới 4 trong ít nhất 5% of the total study time). Các tác giả cũng cho rằng trong tuơng lai phải làm lại các studies cho acidic và non acidic esophageal reflex; họ cũng cho rằng cũng nên randomize giữa medical treatment và surgical repair of GERD.

Ovarian cancer vẫn còn là một vấn đề rất nan giải trong oncology. Vấn đề chính là sự thất bại cuả chemotherapy (thường thì trong khoảng 12 tháng đấu tiên: ung thu sẽ biến đi rất nhanh với chemotherapy hiện đại. Tuy nhiên sau đó tái phát rất nhanh, và rồi second line chemotherapy thường không hiệu quả).
Bài này quoted "overall survival khoảng 50 tháng", con số này hiện nay chấp nhận được, dù thường ngắn hơn.
Ở đây các tác giả dùng chữ "completion surgery", cái này có hơi khác với "second look surgery" dù khác biệt này cũng không xa lắm. Cũng có nêu đến intraperitonal chemotherapy: cái này cũng chỉ là "ruợu cũ bình mới " mà thôi, không khác gì literature về oncology cuả thế giới hồi 1980...
Tại sao lại phải lấy "ruợu cũ" mà chỉ thay đổi "bình" mới? : Đó là vấn đề xưa như trái đất trong oncology: chưa có chemotherapy có hiệu quả hơn (chưa có ruợu mới) (địch nó vẫn tiến, mà không có đạn mới): chính vì thế hiện nay vẫn thất bại trong ung thư phổi chẳng hạn.
Vì thế "mũi dùi" cuả research không phải là tìm cách đổi các combinations của chemotherpay agents (như đã làm hồi 1980-1990), mà phải develop những thuốc mới, đánh phá ung thư theo các cơ chế mới hơn (angiogenesis) (monoclonal antibodies): đây là những chân trời mới đang bùng nổ trong oncology trong vài năm qua và đang cách mạng hoàn toàn việc chữa trị ung thư.
NTM

Disclaimer: bài này qúy vị có thể phổ biến tự do, không cần xin phép tác giả (Nguyễn Tài Mai), chỉ cần đề: bài do BS Nguyễn Tài Mai, đăng trên diễn đàn y sĩ ngày 13 tháng 4 năm 2009 (tôi không giữ lại bản đã viết, cho nên nếu có câu hỏi xin kèm bài này để dẫn chứng).
Việc chữa bệnh từng bệnh nhân riêng biệt dĩ nhiên hoàn toàn tùy thuộc y sĩ điều trị, y sĩ máu, y sĩ ung thư của trường hợp đó.

Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên Khoa Bệnh Máu và Ung Thư

Xin ghi rõ nguồn: Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Thảo Luận Báo Y Khoa