 |
QUẾ VÀ BỆNH TIỂU
ĐƯỜNG TIP 2
Ts Nguyễn-Tuấn-Dũng và Ds Lê-văn-Nhân
Năm 2007 có nhiều bài viết về quế (cinnamomum
cassia) có dược tính hạ đường huyết, nhưng 3 bài viết công phu nhất là
bài của bác sĩ thú y Nguyễn-Thượng-Chánh đăng trên www.khoahoc.net
số tháng 1/08 bằng tiếng Việt, một bài đăng trên Pharmacotherapy số tháng
5/07 và www.medscape.com tháng
4/07 và bài thứ ba đăng trên tạp chí US pharmacist số tháng 12/07. Hai
bài sau viết bằng tiếng Anh. Đặc biệt hơn nữa là cả 3 bài trên đồng tác
giả là dược sĩ Việt-nam, Ds Nguyễn-ngọc-Lan trong bài thứ nhất, David
Q. Pham, PharmD trong bài 2 và Thu Tran, PharmD ở bài thứ 3. Cả 3 bài
đều dựa trên những dữ liệu nghiên cứu lưu trữ trong Medline, Cochrane
v.v. trong đó có 3 nghiên cứu lớn tiêu biểu được dùng để so sánh. Chúng
tôi sẽ đưa thêm 1 nghiên cứu thứ tư của đại học y khoa Oklahoma đăng trên
Diabetes Care tháng 9 năm 2007 là nghiên cứu duy nhất thực hiện ở Hoa-kỳ
cho đầy đủ.
Bài viết này chỉ cố gắng trình bày cho rõ-ràng hơn tương quan giữa 4 nghiên
cứu lâm sàng trên.
Cơ chế hạ đường của quế:
Câu hỏi đặt ra là liệu quế có thật sự hạ
đường trong máu không?
Đại học tiểu bang Iowa Hoa-kỳ đã đưa ra 2 cơ chế
hạ đường của những hoạt chất trong quế:
1/ Theo Karalee J. và
cộng sự thì trong quế có chất methylhydroxychalcone
polymer viết tắt là MHCP. Điều trị bằng MHCP, kích thích tế bào thu nhận
đường và tổng hợp glycogen giống như insulin. Tổng hợp glycogen bị ức
chế bởi wortmannin và LY294002. chất ức chế ngăn cản PI-3-kinase. Ngoài
ra, điều trị bằng MHCP kích hoạt glycogen synthase và ức chế hoạt động
glycogen synthase kinase-3β, đó là những hiệu quả đã biết của insulin.Phân
tích thụ thể insulin chứng minh thụ thể này phosphate hóa khi tiếp xúc
với MHCP. Người ta cũng thực hiện thí nghiệm kết hợp MHCP và insulin với
nhau. Đáp ứng quan sát được cho kết hợp 2 chất này là hợp lực (synergism)
giữa 2 chất.
2/ Theo Imparl-Radosevivh
J. và cộng sự, hợp chất có hoạt tính sinh học trích
từ quế tăng cường hoạt động của insulin, như thử nghiệm oxyt hóa glucose
ở tế bào mào tinh hoàn chuột cống. Wortmannin, một chất ức chế mạnh PI
3’-kinase, giảm đáp ứng sinh học giống với insulin và hợp chất tác dụng
sinh học trích từ quế, cho thấy quế tác dụng lên một chất nào đó ở trên
giòng PI 3’-kinase. Nghiên cứu enzyme trong ống nghiệm cho thấy hợp chất
tác dụng sinh học của quế có thể kích thích hiện tượng phosphate hóa tự
động của 1 đoạn cắt ngắn của thụ thể insulin và có thể ức chế PTP-1, một
chất tương tự tyrosine phosphatase ở chuột cống làm mất hoạt tính của
thụ thể insulin. Không thấy ức chế alkaline phosphatase hay calcineurin,
gợi ý không phải ức chế phosphatase toàn phần. Người ta đưa ra giả thuyết
là hợp chất của quế giống như insulin (insulin-mimetic) tác động lên phản
ứng “phosphate -mất phosphate” của tế bào mỡ nguyên vẹn.
Chúng ta hy vọng một khi những cơ chế này được sáng tỏ hơn, ứng dụng quế
để điều trị bệnh tiểu đường sẽ thành công hơn.
1/ Nghiên cứu tại Pakistan
do Khan A., Ali Khan và cộng sự năm 2003.
Nghiên cứu lâm sàng đầu tiên thực
hiện tại Pakistan xem quế có giúp hạ đường trong bệnh tiểu đường tip 2 không
đã gặt hái được thành công. Nghiên cứu gồm 60 người tham dự (30 nam và 30
nữ) bệnh tiểu đường tip 2, tuổi trung bình 52 ± 6.32 tuổi, mức glucose nhịn
đói 140-400 mg/dl và không tiêm insulin hay dùng thuốc gì cho các bệnh khác.
Những người này được phân phối ngẫu nhiên thành 6 nhóm, 3 nhóm dùng giả
dược, và 3 nhóm dùng viên nang bột quế (Cinnamomum cassia) liều 1 ,3 và
6 g mỗi ngày trong 40 ngày, sau đó theo dõi 20 ngày trong thời gian rửa
thuốc (wash out). Tất cả được tiếp tục dùng sulfonylurea trong khi nghiên
cứu. Ngoài mức glucose huyết tương, còn đo nhiều thông số sinh hóa trước
và sau khi điều trị: Mức giảm các thông
số sinh hóa trước và sau khi dùng quế:
| Glucose |
Triglycerid |
LDL |
HDL |
Cholesterol
Toàn
phần |
| 18-29% |
23-30% |
7-27% |
↔ |
12-26% |
- HDL không thay đổi đáng kể trong cả 6 nhóm. Nhóm dùng giả
dược không thay đổi đáng kể.
- Hiệu quả giống nhau giữa 3 liều quế
- Hiệu quả còn duy trì sau khi ngưng thuốc, mức các thông
số trên sau 20 ngày rửa sạch vẫn thấp hơn mức căn bản.
- Khan và cộng sự gợi ý có thể không cần thiết phải uống
quế hàng ngày và thêm quế vào thức ăn có thể có lợi cho dân số còn lại.
Tác dụng lên mức glucose bụng đói
| |
Mức glucose mg/dL |
| Nhóm |
Liều
quế g/ngày |
Căn bản |
Ngày
20 |
Ngày
40 |
Ngày 60
rửa sạch |
| Uống quế
1
2
3 |
1
3
6 |
208.8±30.6
205.2±21.6
234.0±25.2 |
89.0±32.4
78.2±19.8
83.6±23.4 |
156.6±28.8
169.2±19.8
165.6±27.0 |
174.6
178.2
205.2 |
| Giả dược
1
2
3 |
0
0
0 |
219.6±18.0
223.2±18.0
300.6±25.2 |
228.6±14.4
212.4±16.2
300.6±28.8 |
223.2±19.8
228.6±18.0
302.4±30.6 |
226.8
226.8
306.0 |
2/ Nghiên cứu thứ 2 do Mang
và cộng sự thực hiện tại Hannover, Đức quốc
Nghiên cứu này giả thiết quế cải
thiện được mức hemoglobin A1c, mức glucose bụng đói, LDL, HDL, cholesterol
toàn phần (TC) và triglyceride (TG) ở bệnh nhân tiểu đường tip 2. Nghiên
cứu này mù đôi, tuyển mộ 79 người (44 nam, 21 nữ) bệnh tiểu đường tip
2, đánh giá dữ liệu ở 65 người (14 bị loại khỏi nghiên cứu). Tất cả bệnh
nhân không tiêm insulin, và cho phép dùng thuốc uống trị tiểu đường như
metformin (27.7%), sulfonylurea (12.3%), glinid (4.6%), glitazone (1.5%)
và kết hợp nhiều thuốc (30.8%) hay tiết thực. Những người này được phân
phối ngẫu nhiên thành nhóm dùng giả dược hay nhóm dùng viên nang cao nước
quế (cinnamomum cassia) tương đương với 1 g quế uống ngày 3 lần trong
bữa ăn trong 4 tháng.
Kết quả sau khi uống quế cho thấy khác biệt đáng
kể về số % trung bình mức glucose bụng đói trong nhóm dùng quế (10.3%
± 13.2%) so với nhóm giả dược (3.37% ± 14.2%). Nhóm dùng quế giảm % glucose
bụng đói nhiều hơn. Trái lại, không thấy khác biệt đáng kể về HbA1c, LDL,
HDL, TC và TG sau khi điều trị.
Kết luận, mang và cộng sự công nhận cao nước quế
có tác dụng hạ đường quế so với nghiên cứu ở Pakistan và giảm 10% mức
glucose bụng đói chưa đủ để quan sát khác biệt mức lipoprotein.
3/ Nghiên cứu thứ 3 do Vanschoonbeek
và cộng sự ở đại học Maastricht Hòa-lan thực hiện ở 25 phụ nữ sau tuổi mãn
kinh bệnh tiểu đường tip 2
Đây là nghiên cứu mù đôi có kiểm chứng. Những người tham
dự được tiếp tục uống thuốc (sulfonylurea, metformin, thiazolidinedione
hay kết hợp nhiều thuốc) hay chỉ tiết thực trong 6 tuần nghiên cứu. Người
tham dự được phân phối ngẫu nhiên thành nhóm dùng giả dược hay nhóm điều
trị uống viên nang quế (cinnamomum cassia) 1500 mg mỗi ngày chia làm 3 lần
sau 3 bữa ăn chính trong ngày. Mức nhạy cảm insulin, thử nghiệm dung nạp
glucose uống, HbA1c và lipid profile được thử ở tình trạng bụng đói trước
khi điều trị, 2 tuần và 6 tuần sau khi điều trị, Vanschoonbeck và cộng sự
thấy không có khác biệt đáng kể về mức glucose bụng đói, insulin, HbA1c,LDL,
HDL, TC và TG ở thời điểm 2 tuần và 6 tuần điều trị.
So sánh mức HbA1c ở nghiên cứu Đức và Hòa-lan:
|
|
Nhóm
giảdược |
Nhóm dùng quế |
| Nghiên cứu ở
Đức |
| - số bệnh nhân |
32 |
33 |
| mức glucose bụng
đói
mg/dL ± SD
mức căn bản
4 tháng |
155.9±26.5
140.7±29.2 |
166.7±40.7
146.7±29.7 |
| A1c ± SD
Mức căn bản
4 tháng |
6.71±0.73
6.68±0.70 |
6.86±1.00
6.83±0.83 |
| Nghiên cứu ở
Hòa-lan |
| - số bệnh nhân |
13 |
12 |
| mức glucose bụng
đói
mức căn bản
6 tuần
|
149 ±5.9
145.3±5.6 |
150.7±10.6
142.4±12.8 |
|
A1c ± SD
Mức căn bản
6 tuần |
7.1
± 0.2
7.1
± 0.3 |
7.4
± 0.3
7.5
± 0.3 |
DS : standard deviation hay độ lệch chuẩn
4/ Nghiên cứu thứ 4 của bs Steve M. Blevins và cộng sự, đại học y khoa Oklahoma
Hoa-kỳ đăng trên Diabetes Care tháng 9 năm 2007
Nghiên cứu này tuyển mộ 77 bệnh nhân
tiểu đường tip 2, 17 người bị loại (14 có A1c < 6 và 3 có vấn đề sức
khỏe cấp tính). 60 người còn lại được phân phối ngẫu nhiên, nhưng chỉ có
43 người hoàn tất nghiên cứu. Trong số 17 người bỏ cuộc, 9 ở trong nhóm
dùng quế và 8 ở nhóm giả dược. Tổng cọng có 58
người hoàn tất khám nghiệm đầu tiên, trong đó 30 người trong nhóm dùng quế
và 28 người trong nhóm giả dược. Một người trong nhóm dùng quế bị loại vì
thay đổi nhiều chế độ ăn uống, còn lại 57 người. Hai
nhóm chỉ khác nhau nhiều về tuổi tác (tuổi trung bình 63.6 ở nhóm dùng quế
và 58.0 ở nhóm dùng giả dược). 51% người tham dự là phụ nữ.Trong nhóm dùng
quế, 77% uống thuốc trị bệnh tiểu đường và nhóm giả dược 91%. 55% nhóm dùng
quế và 48% nhóm giả dược uống thuốc hạ lipid huyết. Hai nhóm không khác
nhau nhiều về chỉ số trọng khối BMI, A1c, cholesterol, triglyceride hay
mức insulin.
Quế đựng trong viên nang 500 mg, uống ngày 2 lần trong bữa
ăn sáng và tối trong 3 tháng. Không thấy khác biệt đáng kể giữa 2 nhóm quế
và giả dược về thay đổi mức đo căn bản và 3 tháng sau.
Kết quả tương tự khi phân tích giới hạn ở 42 người hoàn tất cuộc nghiên
cứu.
| Biến số |
Quế |
∆ |
Giả dược |
∆ |
P |
| Số bệnh nhân |
29 |
|
28 |
|
|
| BMI (Kg/m2) |
32.5
± 1.7 |
-0.2 |
32.0
±1.5 |
0.0 |
0.83 |
| Glucose (mg/dL) |
132.9
±9.3 |
9.8 |
144.7
±10.4 |
0.3 |
0.40 |
| A1c (%) |
7.2
± 0.3 |
0.2 |
7.1
± 0.2 |
0.1 |
0.94 |
| TC (mg/dL) |
170.2
± 8.1 |
0.8 |
176.3
±8.0 |
-2.9 |
0.60 |
| HDL (mg/dL) |
43.9
± 1.5 |
0.8 |
-2.2
± 1.7 |
-1.0 |
0.28 |
| LDL (mg/dL) |
101.5
± 6.7 |
-2.0 |
105.1
± 6.7 |
-3.0 |
0.87 |
| TG (mg/dL) |
132.4
± 15.5 |
9.6 |
155.7
± 16.1 |
16.1 |
0.40 |
| Insulin (IU/ml) |
12.9 ±1.3 |
1.6 |
11.8
± 1.6 |
5.7 |
0.25 |
TC: cholesterol toàn phần - TG: triglyceride
Nhìn vào sự biến đổi (∆) thấp và số P quá cao, chúng ta thấy
không khác biệt đáng kể giữa nhóm quế và nhóm giả dược.
Qua 4 nghiên cứu trên, trừ nghiên cứu thứ 1 ở Pakistan,
các nghiên cứu khác đều cho thấy không thay đổi đáng kể mức HbA1c. Ngay
cả nghiên cứu thành công tại Pakistan, chúng ta thấy có các khuyết điểm
sau:
- nghiên cứu thực hiện tại Pakistan là xứ kiểm soát
bệnh tiểu đường không tốt lắm, mức đường lên quá cao, nên dễ khuếch đại
tác dụng của quế.
- Nghiên cứu này chỉ thực hiện trên một dân số nhỏ
là 60 người, mặc dầu có vẻ nhiều hơn những nghiên cứu lâm sàng còn lại.
Do dân số nhỏ, kết quả không bảo đảm đúng cho toàn dân số.
- Chúng ta cũng không biết thành phần ăn uống của
những người tham gia nghiên cứu như thế nào. Nếu cách ăn uống khác nhau
thì kết quả cũng sẽ khác nhau.
- Nhìn vào bảng so sánh tác dụng hạ glucose bụng
đói của nghiên cứu Pakistan, chúng ta thấy kết quả rất tốt ở nhóm dùng
quế ở thời điểm ngày 20, nhưng qua ngày 40 thì mức glucose tăng cao, và
sau khi rửa sạch 20 ngày, mức ngày 60 mặc dầu thấp hơn mức căn bản ban
đầu, nhưng vẫn cao hơn mức ở ngày 40, chứng tỏ mức đường lên lại nhưng
chậm. Có thể sau 20 ngày, cơ thể có 1 cơ chế thích ứng với hoạt chất của
quế, nên tác dụng hạ đường của quế suy giảm.
Tính an toàn của quế:
Quế chứa một lượng đo được các chất
gây bướu cổ (goitrogen), oxalate, hay purine và không biết có gây dị ứng
thực phẩm không. Dùng 1 liều cao vỏ quế hay 1 lượng vừa phải tinh dầu
quế đã cho thấy tăng tác dụng nhiều chức năng sinh học, như nhịp tim,
nhu động ruột, nhịp thở và ra mồ hôi qua kích thích hóa học của trung
tâm vận mạch (vasomotor) đã được báo cáo. Sau một thời gian tăng chức
năng của những cơ quan này, sẽ xảy ra thời gian tĩnh lặng trung ương.
Y văn cũng bảo phụ nữ từ 30 đến 60 tuổi dễ bị dị ứng qua đường miệng.
Xem chừng quế giả:
Một dược sĩ ở Saigon cho biết cứ 5 hiệu thuốc bắc
thì chỉ có 1 hiệu bán quế thật, 4 hiệu kia hoàn toàn không biết mình bán
quế giả. Người ta đã lấy vỏ cây giống vỏ quế phơi khô, rồi mua lá quế
phơi khô xây thành bột ủ với vỏ cây phơi khô để tẩm mùi hương quế. Nhưng
khi bẻ ra nếm thì không thấy vị quế. Dĩ nhiên, nếu kiểm nghiệm thực vật
qua kính hiển vi, chúng ta sẽ thấy thành phần quế giả khác quế thật. Chúng
tôi mong sở y tế các tỉnh thành phố ở Việt-nam kiểm tra xem các hiệu thuốc
bắc ở khu vực mình có bán quế giả không.
Ngoài ra, sách báo tại Mỹ bảo cinnamomum cassia là quế
Trung quốc. Mặc dầu điển tích Trung quốc “vách quế” cho biết vách tường
nhà giàu có tẩm quế để giữ mùi hương và ấm áp, nhưng quế chỉ mọc ở vùng
nhiệt đới, nên chúng tôi không tin quế mọc tại Trung quốc. Quế Trung quốc
mua của các nước phương nam như Việt-nam, Malaysia, Ấn-độ. Rừng núi 2
tỉnh Quảng-nam và Quảng-ngải trước kia nhiều quế, nhưng do không có ứng
dụng kỹ nghệ, nhà trồng trọt không có lời nên nuôi trồng quế không phát
triển.
Tài liệu sử dụng:
1/ Nguyễn-thượng-Chánh và Nguyễn-ngọc-Lan. Có thể hạ đường huyết
bằng thuốc thiên nhiên không? www.khoahoc.net
2/ Angie Eaton-Maxwell and Thu Tran. Cinnamon-More
than just a Flavoring Agent. www.uspharmacist.com
số 12/07
3/ Anthony Pham et al. Cinnamon supplementation
with type 2 diabetes Mellitus.Medscape April 2007 and Pharmacotherapy
5/07
4/ Khan A, Safdar M, Ali Khan MM, et al. Cinnamon improves
glucose and lipids of people with type 2 diabetes. Diabetes Care. 2003;
26:3215-3218.
5/ Mang B, Wolters M, Schmitt B, et al. Effects of a cinnamon
extract on plasma glucose, HbA1c, and serum lipids in diabetes mellitus
type 2. Eur J Clin Invest. 2006; 36:340-344.
6/ Vanschoonbeek K, Thomassen BW, Seden JM, et al. Cinnamon
supplementation does not improve glycemic control in postmenopausal type
2 diabetes patients. J Nutr. 2006;136:977-80.
7/ Steve M. Blevins et al, Effects of Cinnamomum cassia
on glucose and Lipid Levels in non-insulin-dependent Type 2 diabetes.
Diabetes Care 09/07.
Ts Nguyễn Tuấn Dũng và Ds Lê Văn Nhân
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết
này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |