 |
MỘT
SỐ VẤN ĐỀ VỀ LOẠN LIPID HUYẾT
Dược Sĩ Lê Văn
Nhân
XÉT NGHIỆM:
Cholesterol toàn phần và
HDL-Cholesterol, chứ không phải Triglycerid, tiên đoán nguy cơ mạch máu.
Bác sĩ có thể đơn giản hóa dụng cũ đánh giá nguy cơ hiện
nay bằng cách đo hoặc cholesterol toàn phần và HDL-cholesterol hay apolipoprotein,
và xét nghiệm này có thể thực hiện ngay ở bệnh nhân không nhịn đói, theo
kết quả của nghiên cứu “xuất hiện cộng tác yếu tố nguy cơ" (Emerging
Risk Factors collaboration) đăng trên báo của hội y khoa Hoa-kỳ ngày 11.11.09. Tác giả nghiên cứu, bác sĩ Emanuele
di Angelantonio, đại học Cambridge vương quốc Anh, bảo nghiên cứu này thiết
lập ngân hàng trung ương dữ liệu của 1.2 triệu người tham dự từ hơn 100
nghiên cứu viển tưởng lâm sàng có dữ liệu những chất đánh dấu về lipid và
viêm, những yếu tố nguy cơ khác, và dữ liệu bệnh suất và tử suất. Những
nghiên cứu trước đây, đã đưa ra câu hỏi về sự quan trọng phải đo mức triglycerid
để đánh giá nguy cơ tim mạch, và những nghiên cứu khác đã tranh cãi sự quan
trọng của việc nhịn ăn khi lấy máu xét nghiệm lipid. Để
đánh giá vai trò của những lipid chính và apolipoprotein trong nguy cơ bệnh
mạch máu, nhóm nghiên cứu thu thập dữ liệu của 302 430 cá nhân không có
bệnh mạch máu khi bắt đầu nghiên cứu ở 68 thử nghiệm lâm sàng. Họ đánh giá
tỷ lệ nguy cơ khi triglycerid, HDL-cholesterol, non HDL-Cholesterol, apolipoprotein
A1)apoA-1) và apolipoprotein B (apoB) tăng 1 độ lệch chuẩn. Nhìn
chung, tăng 1 độ lệch chuẩn HDL-cholesterol, tăng khoảng 15 mg/dL, giảm
22% nguy cơ bệnh động mạch vành, trong khi tăng 1 độ lệch chuẩn non-HDL-cholesterol,
khoảng 43 mg/dL, tăng cao 50% nguy cơ động mạch vành. Tăng triglycerid,
sau khi điều chỉnh với tuổi tác, phái tính và những lipid khác, kể cả non-HDL-cholestrol
và HDL-cholesterol, không dính líu đến nguy cơ bệnh động mạch vành.
Những tỷ lệ nguy cơ này (hazard ratio) mạnh ở người tham
dự nhịn đói cũng như người không nhịn đói khi lấy mẫu máu đo lipid huyết.
| Đo |
Tỷ lệ nguy cơ
khi tg 1-SD
(95% khoảng tin cậy) |
| Triglycerid |
0.99 (0.94-1.05) |
| HDL-cholesterol |
0.78 (0.74-0.82) |
| apo A1 |
0.78 (0.72-0.86) |
| Non-HDL-C |
1.50 (1.39-1.61) |
| apo B |
1.58 (1.39-1.79) |
Các nhà nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ nguy cơ của non-HDL-cholesterol
và HDL-cholesterol gần giống như kết quả ở apo B và apo a1, nên đang có
thảo luận có nên đo apolipoprotein trong thực hành không, khi nghĩ đến chi
phí, phòng xét nghiệm có thực hiện được không, và tiêu chuẩn xét nghiệm
chính xác đến mức nào.
Theo JAMA 11.11.09 Statin
có thể cho kết quả xấu ở người suy tim tâm trương
Bệnh nhân suy tim tâm trương trải
qua tăng khó thở và mệt mỏi khi tập thể dục có thể cần phải điều chỉnh
thuốc, theo một nghiên cứu báo cáo trong hội nghị bệnh lồng ngực Hoa-kỳ.
Nghiên cứu này thực hiện ở Boston với 139 bệnh nhân suy
tim, để xem tình trạng statin và tác dụng lên chức năng hô hấp và dung
nạp vận động ở bệnh nhân suy tim tâm trương. Có tất cả 78 bệnh nhân không
uống statin (82% suy tim tâm trương, 55% phụ nữ, tuổi trung bình 55 ±
14, so với 61 bệnh nhân uống statin ( 72% suy tim tâm trương, 345 phụ
nữ, tuổi trung bình 64 ± 11). Statin được kê đơn nhiều nhất là atorvastatin
(Lipitor) chiếm 75% người uống statin.
Tác giả báo cáo FEV-1 (thể tích thổi mạnh ra trong giây
đầu tiên), FVC (forced vital capacity) và dung nạp vận động thấp hơn đáng
kể ở người uống statin so với người không dùng.
Phân tích nhóm phụ cho thấy chức năng phổi ở người suy
tim tâm trương uống statin thấp hơn 12% so với người suy tim tâm trương
không uống statin. Đỉnh Watts và đỉnh hấp thu oxygen ở người suy tim tâm
trương thấp hơn người suy tim tâm trương không uống statin 165 và 18%
theo thứ tự.
Điều tìm thấy đáng kể nhất là dung nạp vận động. Đo kết
quả vận động ở ngưỡng thiếu không khí thấp hơn ở người uống statin với
suy tim tâm trương so với người không uống thuốc, nhưng sai biệt không
đáng kể trên mặt thống kê.
Bác sĩ chủ tịch hội bệnh lồng ngực Hoa-kỳ bảo statin cung
cấp nhiều điều lợi cho bệnh nhân bệnh tim mạch. Tuy nhiên, khi cho thuốc
mới, bác sĩ cần theo dõi sát tác dụng của bất cứ statin nào lên mỗi bệnh
nhân riêng rẽ.
Theo CHEST 2009
NIACIN NHẢ CHẬM TỐT HƠN EZETIMIBE
(ZETIA) TRONG NGHIÊN CỨU ARBITER 6-HALTS
ARBITER 6-HALTS (Arterial Biology for the Investigation
of the Treatment Effects of Reducing Cholesterol 6 HDL and LDL.Treatment
Strategies in Atherosclerosis tạm dịch là sinh học động mạch để điều tra
hiệu quả điều trị giảm cholesterol 6: HDL và LDL. Chiến lược điều trị xơ
cứng động mạch). Nghiên cứu này được báo cáo ở hội nghị bệnh tim mạch Hoa-kỳ
2009 và đăng trên báo NEJM tháng 11/2009. Thông
thường bác sĩ dùng statin để hạ cholesterol. Nhưng khi cần giảm thêm LDL
cho đến mục tiêu các bác sĩ có thể dùng thêm Ezetimibe (Zetia) cùng với
statin. Ezetimibe là thuốc ức chế hấp thụ cholesterol do công ty Merck bào
chế. Trong nghiên cứu này, người ta muốn biết khi kết hợp để hạ LDL xuống
thật thấp có thêm lợi ích gì không so với thuốc Niacin nhả chậm ngoài giảm
LDL còn tăng thêm HDL. Tất cả bệnh nhân trong
nghiên cứu đang dùng statin và mức LDL < 100 mg/dL, HDL < 55 mg/dL,
và có bệnh động mạch vành hay 1 nguy cơ tương đường (thí dụ bệnh tiểu đường
hay điểm nguy cơ 10 năm trong thang điểm Framingham 20%). Kết quả chính
của nghiên cứu là thay đổi bề dày nội mạc động mạch cảnh (CIMT: carotid
intima-media thickness) sau 14 tháng. Nghiên cứu này được kỷ nghệ dược tài
trợ và phải chấm dứt sớm do kết quả phân tích tạm thời. Có 208 người tham
dự ( tuổi trung bình 65, 80% phái nam) với dữ liệu trong 14 tháng.
| Thuốc điều
trị |
LDL |
HDL |
| Mức căn bản
lúc đầu |
82 mg/dL |
42 mg/dL |
| Điều trị
trong 14 tháng |
| Ezetimibe + statin |
giảm 18 mg/dL |
giảm 3 mg/dL |
| Niacin + statin |
giảm 10 mg/dL |
tăng 8 mg/dL |
Niacin, chứ không phải Ezetimibe, liên quan với giảm đáng kể bề dày nội
mạc động mạch cảnh. Trong nhóm ezetimibe, mặc dầu giảm nhiều LDL nhưng
vẫn tăng bề dày nội mạc động mạch cảnh. Tỷ suất biến cố tim mạch cao hơn
ở nhóm Ezetimibe (5%) so với nhóm dùng Niacin (1%).
Yếu điểm của nghiên cứu này là số người tham dự nhỏ. Điều
tìm thấy nêu lên quan ngại về một món thuốc đã trở nên thông dụng, mặc
dầu thiếu chứng cứ giảm thêm LDL mang lại lợi ích cho bệnh nhân. Chỉ nên
dùng Ezetimibe như là thuốc cuối cùng, khi các thuốc khác không giúp được.
Công ty Merck cũng đã gởi thư cho các bác sĩ, bảo nghiên
cứu này nhỏ, không thể so sánh với những nghiên cứu của merck lớn hơn
chứng minh kết hợp này có ích.
Statin không loại bỏ được
nguy cơ HDL-C thấp
Bác sĩ Richard Karas, trung tâm y khoa Tufts ở Boston,
trình bày một phân tích meta lấy từ 20 nghiên cứu ngẫu nhiên có kiểm chứng
với 137000 người tham dự, để xem điều trị statin có thay đổi nguy cơ liên
quan với mức HDL-C thấp không. Trong những nghiên cứu này, mức trung điểm
HDL khi bắt đầu điều trị là 45 mg/dL và sau khi điều trị là 48 mg/dL.
Những mức này giống như mức bệnh nhân điều trị và dùng giả dược.
Sau khi điều chỉnh với mức LDL và tuổi tác, tăng HDL-C
10 mg/dL ngăn ngừa 7.6 ca nhồi máu cơ tim trong 1000 bệnh nhân mỗi năm
ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng statin. Lợi ích này gần giống như nhóm
kiểm chứng khoẻ mạnh. Tăng 10 mg/dL HDL-C ngăn ngừa 9.7 biến cố bệnh tim
mạch trong 1000 bệnh nhân mỗi năm ở nhóm điều trị statin và 9.9 biến cố
tim mạch trong nhánh kiểm chứng.
Nghiên cứu này cho thấy mức HDL-C càng thấp, nguy cơ tim
mạch càng cao, nhất là nguy cơ nhồi máu cơ tim. Nói một cách khác, nghiên
cứu này chứng minh statin không thay đổi được nguy cơ liên quan với mức
HDL-C thấp.
Tác giả bảo trong y khoa thực hành, các bác sĩ nghĩ rằng
hạ LDL-C dưới mục tiêu là an toàn mà qu6n chú ý đến mức HDL-C. HDL thấp
liên quan với nguy cơ tim mạch, và nhiều nghiên cứu trước đây tập trung
vào việc nâng cao mức HDL. Một chất ức chế protein chuyển cholesteryl
ester TORCETRAPIB của Pfizer, vì tăng nguy cơ tử vong và biến cố tim mạch,
nên không dùng được. Những chất khác, như ANACETRAPIB của Merck đang còn
phát triển và không có vẻ gây độc hại ngoài mục tiêu như torcetrapib.
Ds Lê Văn Nhân
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép
tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |