![]() |
![]() |
|
| |
||
| |
||
| |
Enalapril,
Captopril liên quan đến Tử Suất Cao do Suy Tim Mãn So với Ramipril và 5 thứ thuốc chống men chuyển angiotensin khác, enalapril và captopril liên quan đến nguy cơ cao 10% đến 15% tử suất khi kê đơn cho bệnh nhân suy tim mãn. Bác sĩ Pilote ở đại học McGill Canada và cộng sự nghiên cứu tất cả bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên điều trị tại bệnh viện do suy tim mãn hay suy tim xung huyết giữa 01.01.1998 và 03.31.2002 ở 3 bệnh viện. Trong 3 năm trước đó, bệnh nhân không nhập viện cùng chẩn đoán này. Nhóm nghiên cứu phân tích liên quan giữa thuốc chống men chuyển angiotensin kê đơn trong vòng 30 ngày sau khi xuất viện và tử vong sau đó. Ramipril (tên biệt dược ở Việt-nam: Corpril của Ranbaxy) là thuốc chống men chuyển được kê đơn phổ thông nhất tại Canada và được dùng để làm thuốc căn bản tham khảo. Tất cả có 43 316 bệnh nhân mua thuốc chống men chuyển sau khi xuất viện. Tử suất liên quan đến thuốc Lisinopril, Fosinopril, Quinapril, Perindopril và Cilazapril giống như Ramipril. Tuy nhiên, dùng enalapril hay captopril liên quan đến tử suất cao hơn so với Ramipril. Bác sĩ Pilote và cộng sự báo cáo ngày 05.06.08 trên báo CMAJ (Canadian Medical Association Journal) tạm dịch là báo của hội y sĩ Canada. Tỷ lệ nguy cơ tử vong đã điều chỉnh là 1.10 với enalapril và 1.13 với Captopril so với Ramipril. Bác sĩ Pilote bảo lý do khác biệt có thể sinh hóa và cũng có thể do Ramipril chỉ cần dùng ngày 1 lần, dễ dùng hơn và bệnh nhân thích dùng thuốc này hơn. Góp ý của người dịch: Captopril là thuốc hạ huyết áp hiệu nghiệm nhanh nhất nên bác sĩ ở Việt-nam thường hay cho bệnh nhân dùng khi mới nhập viện. Nhưng khi đã có chẩn đoán là suy tim xung huyết, nên đổi qua dùng thuốc chống men chuyển khác. Theo CMAJ 2008; 178:1303-1311 |
|
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
![]() |
||