 |
Thuốc
Chống Men Chuyển Angiotensin Có Thể Chống Ung Thư Phổi
Ds Lê-văn-Nhân
Chúng ta đã biết renin làm tăng angiotensin I trong phổi,
và men chuyển angiotensin (ACE) biến angiotensin I không hoạt động thành
angiotensin II hoạt động. Thuốc chống men chuyển angiotensin (ACE-I) không
cho thành lập angiotensin II nên sẽ tăng cao angiotensin I.
Mặc dầu angiotensin I không có hoạt tính, nhưng chất chuyển hóa của nó
là angiotensin (1-7) viết tắt là A(1-7) lại có tính dãn mạch phụ thuộc
nồng độ (ED50 ³ 2 micromol) ở vòng động mạch vành heo đã bị co thắt bởi
chất giống như Thromboxane A2. Tác dụng này giảm đáng kể bởi chất ức chế
nitric oxide synthase, NG-nitro-L-arginine, và bị hủy bỏ khi lấy ra khỏi
nội mô, nhưng được tăng cường bởi thuốc chống men chuyển quinaprilat (thuốc
quinapril biệt dược accupril).
AT (1-7) là một peptid với 7 acid amin giống như angiotensin III. Chất
này không phải là một khám phá mới, vì đã được khảo cứu từ lâu và công
bố trong các tập san dược lý từ năm 1994.
Người ta nghĩ angiotensin II và A(1-7) có tác dụng nghịch nhau về điều
hòa tăng sinh tế bào cơ nhẵn mạch máu. Sự ức chế tăng trưởng của A (1-7)
có vẻ qua trung gian một thụ thể mới không bị ức chế bởi các chất đối
kháng thụ thể AT1 và AT2. Ngoài ra cũng có thí nghiệm chứng minh khi tăng
thêm Thymidin sẽ làm tăng sinh tế bào cơ nhẵn mạch máu, trong khi A (1-7)
ức chế ghép thymidin vào DNA nên ức chế tăng sinh tế bào.
Vậy thuốc chống men chuyển sẽ tăng mức A(1-7), làm dãn nở thành động mạch.
Các nhà nghiên cứu của đại học y khoa Wake Forest tại Winston-Salem, North
Carolina tìm thấy A(1-7) làm giảm mức COX-2 hay cycloxygenase-2, enzym
này làm tăng trưởng tế bào và thường tăng cao ở bệnh nhân ung thư phổi.
Sự tìm thấy này đăng trên báo Cancer Research số 15/3//07.
Theo hội ung thư Hoa-kỳ, ung thư phổi vẫn là
nguyên nhân hàng đầu tử vong do ung thư ở hai phái nam nữ, giết nhiều
người hơn ung thư ruột già, ung thư vú, và ung thư tuyến tiền liệt cọng
lại với nhau. Vì ung thư phổi thường chỉ được chẩn đoán ở giai đoạn trễ,
cứ 10 người ung thư phổi thì có 6 người chết trong năm đầu tiên sau khi
được chẩn đoán. Mức sống sót sau 5 năm là 14%, và ước lượng 170 000 người
Mỹ chết hàng năm vì bệnh này.
Trong nghiên cứu này, toán nghiên cứu thử nghiệm trên
một nhóm chuột tuổi từ 2 đến 4 tuần, được cấy tế bào ung thư phổi từ 1
người bệnh 58 tuổi. U bướu được cho phát triển trong 32 ngày.
Thay vì thử bằng thuốc chống men chuyển angiotensin, các nhà nghiên cứu
tiêm một nửa số chuột với nội tiết tố A(1-7) trong thời gian 28 ngày.
Nửa số còn lại tiêm dung dịch muối đẳng trương.
Thí nghiệm này kích thích mức A(1-7) trong máu chuột nhắt ngang với mức
người uống thuốc chống men chuyển.
Mổ chuột sau đó, thấy mức COX-2 giảm đáng kể ở nhóm chuột điều trị, trong
khi u bướu phổi teo lại 30%. Trái lại, u bướu phổi ở chuột nhắt chỉ tiêm
dung dịch muối đẳng trương lớn gấp 2.5 so với khi chưa tiêm.
Toán nghiên cứu không thấy tác dụng phụ ở nhóm chuột được tiêm A(1-7).
Các con chuột này không thay đổi thể trọng, nhịp tim hay huyết áp.
Điều quan ngại nhất là thuốc ức chế chọn lọc COX-2 (như Vioxx và Celebrex)
đã cho thấy giảm nguy cơ ung thư phổi. Tuy nhiên nghiên cứu cho thấy nhóm
thuốc này làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch như nhồi máu cơ tim, đau
thắt ngực và đột quỵ.
Toán nghiên cứu bảo cần có nghiên cứu thêm để xem có dung nạp được liều
cao A(1-7) không và điều trị lâu dài có làm u bướu nhỏ thêm hơn không.
Họ cho biết trong 2 tuần nữa sẽ thử trên người. Kết quả nghiên cứu này
cho thấy thuốc làm tăng hormone như thuốc chống men chuyển angiotensin
sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc bệnh ung thư, hoặc dùng
một mình hoặc kết hợp với nhiều thứ thuốc.
Họ hy vọng sẽ kết hợp với những thuốc điều trị ung thư khác, để giảm lượng
hóa chất chống ung thư, vì hóa chất chống ung thư có độc tính cao, và
hy vọng sẽ cải thiện được chất lượng đời sống của người bệnh.
Tài liệu tham khảo:
- Br J Pharmaco 3/94
- Hypertension 1996;27:523-528
- Hypertension 1996;28:104-108
- Pharmaco Review 2007, 59:54-87
Ds Lê Văn Nhân
>>>back>>>
|
 |