Rượu kìm
hãm oxýt hoá Formate và Formaldehyde ủ vơí hồng huyết cầu và mô gan
Bác sĩ Trần mạnh
Ngô
Trong kết quả nghiên cứu trước đây đã tường trình cho
biết hiện tượng oxýt hoá 14C-formaldehyde bất bình thường khi ủ vơí hồng
huyết cầu người ghiền rượu hoặc người bình thường uống rượu. Tường trình
này muốn tìm hiểu thêm bằng cách ủ hai (2) tiền chất trong vũng monocarbon,
formate và formaldehyde, nối vơí đồng vị phóng xạ C14 vào hồng huyết cầu
người và chuột và mô gan và não chuột, thêm hoặc không thêm rượu. Sửa
soạn hồng huyết cầu người hay chuột từ máu tươi chứa chất loãng máu rút
ra từ người hay từ chuột đực Wistar. Hồng huyết cầu được rửa 2 lần vơí
nước bìển lạnh (Pingee’s solution và Gey’s balanced salt solution), độ
pH 4.5-5.0.
Sửa soạn gan và óc chuột chuột từ chuột Wistar. Gan và
óc chuột được ghiền và ủ trong nước phosphate 0.1M, pH 7.0. Máy đo đồng
vị phóng xạ liên tục “in-vitro”.
Hồng huyết cầu người hay chuột hoặc mô nghiền gan hay
óc được ủ với 1.0 µCi 14C-formaldehyde hay 1.0 µCi 14C-formate, có hoặc
không có rượu vơí những liều lượng khác nhau, trong dung dịch Gey, trong
thời gian từ 120-180 phút.
Hơi chứa 95% dưỡng khí và 5% thán khí liê tục chạy qua
“phòng ủ” (incubation chamber) vơí tốc độ 100cc/một phút. Luồng hơi chạy
qua máy Triton-755C (do hãng Johnson cung cấp để thử nghiêm. Máy này gồm
phòng ion-hoá (ionization chamber) nối vơí máy đo tĩnh lực điện (electrometer).
Kết quả đo liên tục bằng máy ghi.
Kết quả thử nghiệm cho thấy oxýt hoá formaldehyde hay
formate thành CO2 thấy khi ủ vơí hồng huyết cầu chuột hay người hay gan
chuột. Hiện tượng oxýt hoá này không thấy khi ủ vơí mô não chuột. Như
vậy là có thể có phân hoá tố oxýt hoá formaldehyde hay formate khi ủ vơí
hồng huyết cầu chuột hay người và gan chuột, nhưng không thấy trong não
chuột.
Kết quả cho thấy rượu kìm hãm oxýt-hoá formaldehyde và
formate ủ vơí mô gan chuột. Kết quả giúp giải thích kết quả tác dụng rượu
kìm hãm oxýt hoá formaldehyde đã tường trình trước đây. Kết quả gúp giải
thích hiện tượng oxýt hoá bất bình thường từ formaldehyde khi ủ vơí hồng
huyết cầu bệnh nhân ghiền rượu hay ngươì bình thường uống rượu đã tường
trình trước đây. Kết quả cũng ủng hộ giả thuyết trước đây của tác giả
cho rằng rượu kìm hãm tác dụng tetrahydrofolate khi oxýt hoá formate hay
formaldehyde.
Kết quả thử nghiệm cho thấy những nồng độ rượu thay đổi
từ 0.002-0.02% trong mô, tức là lượng rượu khoảng 2-20 lần nhỏ hơn lượng
rượu đo được bằng phương pháp phổ quang (spectrophotometric procedures),
khuyến cáo dùng phương pháp đồng vị phóng xạ này có thể đo tức thơì lượng
rượu trong mô.
References:
1)
Ngo Tran and Etienne LeBel: Inhibition of formate and formaldehyde oxidation
by ethanol as an index for estimating alcohol concentration in isolated
tissues, J. Nuclear Med, 15: 284-287, 1973.
2) Ngo
Tran, M . Laplante, E. LeBel: Abnormal oxidation of 14C-formaldehyde to
14CO2 in erythrocytes of alcoholics and non-alcoholics after consumption
of alcoholic beverages. J. Nuclear Med 13: 677-680, 1972.
TAGS: Oxýt hoá Formate, Oxýt hoá Formaldehyde,
Rượu, Vũng monocarbon, Mô gan, Hồng huyết cầu, Mô não, Phòng ion-hoá (ionization
chamber), Máy đo tĩnh lực điện (electrometer), Tran Manh Ngo
>>>back>>>
|