Dùng F-18 FDG PET/CT Truy Tầm Di Căn Ung Thư Tuyến Nước Bọt lan vào Giây Thần Kinh
Nguyễn Bá, M.D., và Roarke, Michael, M.D.

Bs Bá Nguyễn cùng đồng nghiệp là Bs Michael Roarke vừa xuất bản tường trình một trường hợp lâm sàng dùng phương pháp phối hợp PET/CT truy tầm di căn ung thư tuyến nước bọt ở mang tai khám phá vết phóng xạ do u bướu ung thư tái phát xung quanh giây thần kinh số 7 nằm trong ống thần kinh số 7 của xương sọ (facial canal). Các tác giả trình bày 3 hình ảnh có điểm nóng phóng xạ nơi ống dẫn thần kinh số 7 của xương mang tai trái, và hình ảnh sau khi bệnh nhân điều trị.
Xin mời đọc bài: Salivary Duct Carcinoma With Perineural Spread to Facial Canal: F-18 FDG PET/CT Detection đăng trong báo Clinical Nuclear Medicine, 33: 925-028, 2008. Nếu muốn nhận ấn bản thì xin liên lạc với Bs Bá D.Nguyễn, M.D., Department of Radiology, Mayo Clinic, 13400 E. Shea Blvd, Scottdale, AZ 85259. E-mail: nguyen.ba@mayo.edu

Bs Trần Mạnh Ngô viết:
Triệu Chứng Ung Thư Tuyến Nước Bọt:
Theo Hội Ung Thư Hoa Kỳ cho biết triệu chứng ung thư tuyến nước bọt thường khởi đầu xuất hiện một cục bướu nhỏ không biết từ đâu, hoặc bệnh nhân thấy đau mặt, mồm hay cổ.
Khi bất chợt thấy hình dạng mặt hay cổ không đều, không đối xứng, hoặc thấy tê mặt, thì phải cho bác sĩ biết ngay.
Nếu có tiểu sử gia đình bị ung thư tuyến nước bọt thì có nguy cơ ung thư tuyến nước bọt cao hơn.
Hút thuốc lá hay ăn nhiều đồ ăn chất mỡ và ít ăn rau có nguy cơ ung tư tuyến nước bọt nhiều hơn.
Cũng có liên hệ khi bệnh nhân điều trị ung thư phải chiếu quang tuyến (xạ trị) vào cổ hay mặt, hoặc tiếp xúc với bụi nickel hay bụi silica.

Vài Lời Về PET/CT Scan và Ung Thư Đầu Cổ:
Ngày nay, sử dụng phối hợp PET/CT rất rộng rãi. Một trong những ứng dụng của PET/CT scan giúp truy tầm di căn ung thư hay tìm hiều nguồn gây di căn ung thư. Khi dùng PET/CT các y sĩ có thể tìm hiểu hình thái học và biến dưỡng cùng một lúc, giúp các bác sĩ chuyên khoa ung thư kiếm được vị trí của nguồn ung thư dưới lưỡi (tongue base). Nếu không có PET/CT, truy tầm nguồn ung thư dưới lưỡi (tongue base) khó khăn hơn. Vả lại, nếu chỉ dùng CT không thôi thì chưa chắc đã khám phá được nguồn ung thư. Ấy là chưa kể làm sinh thiết có khi cũng không thấy được nguồn ung thư.
Biết được vị trí ung thư còn có cái lợi là khi xạ trị (điều trị bằng cách chiếu quang tuyến) sẽ chính xác hơn, đỡ xạ trị lung tung vào những nơi không cần thiết. Tức là vừa kiểm soát đúng vùng muốn điều trị và tránh nhiễm phóng xạ không cần thiết. Nếu biết rõ được vùng nào bị ung thư thì vấn đề khám bệnh cũng dễ dàng hơn.
Chuẩn định ung thư đặt trên căn bản biến dưỡng chất đường hơn là dựa vào hình thái học. Mặc dù, tồn đọng FDG (F-18-fluoro-deoxyglucose) vào u bướu ung thư không đặc thù khi chất FDG tích tụ trong mô lymphoid (đặc biêt hạch amydal ở cổ), bắp thịt thanh quản, bắp thịt giúp mồm nhai được, tuyến giáp trạng, và tích tụ PDG trong vài trường hợp viêm không phải ung thư.
Phối hợp PET/CT còn giúp các bác sĩ theo dõi diễn biến bệnh trạng, xác định từng giai đoạn ung thư diễn biến theo hình dạng của PET/CT, biết được những vùng ung thư ở xa hơn, theo dõi hiệu quả trong khi điều trị u bướu ung thư, và có thể tiên lượng được ung thư đầu và cổ tái phát.

>>>back>>>

Khảo Cứu Y Dược Khoa