Tìm hiểu thuốc VASTAREL (generic : Trimetazidine)
Dược sĩ Lê Văn Nhân

Các bác sĩ ở Việt-nam cho rất nhiều Vastarel nhất là khoa tim mạch. Thuốc này không có ở Hoa-kỳ nên không có trong sách dược lý không những ở Mỹ mà ngay cả ở Việt-nam. Sách Les Medicaments của Pierre Allain của Pháp cũng không giải thích rõ về chỉ định và cơ chế tác dụng.
Chúng tôi dựa vào thông tin của viện bào chế trình bày những điểm căn bản để các dược sĩ ở Việt-nam hiểu thêm về thuốc này:
Khi hiểu rõ hơn về thay đổi trong chuyển hóa tim, đặc biệt oxyt hóa acid béo ở tốc độ cao đóng góp vào việc giảm hiệu năng tim trong khi thiếu máu cục bộ và tưới máu trở lại, đã tạo ra phương cách tác động lên chất phản ứng chuyển hóa để chuyển thiếu máu cục bộ cơ tim từ acid béo qua sử dụng glucose. Viện bào chế đã sáng tạo chất trimetazidine, thuốc đầu tiên trong nhóm thuốc chuyển hóa, có tên là thuốc ức chế 3-KAT (3-Ketoacyl coenzyme A Thiolase), tối ưu hóa chuyển hóa trong điều kiện thiếu máu cục bộ. Tên biệt dược của trimethazidine là Vastarel có lẽ bán ở Việt-nam dạng này dùng ngày 3 lần và Vastarel MR (Modified Release) biến đổi nhả thuốc để có thể dùng ngày 2 lần.
Trimetazidine đã chứng tỏ có tác dụng chống đau thắt ngực (antiangina) do cơ chế tác dụng đặc biệt về chuyển hóa. Trimethazidine giảm hư hại chuyển hóa gây ra khi bị thiếu máu cục bộ, bằng cách tác dụng lên bước chính yếu của chuyển hóa tim: oxyt hóa beta acid béo. Điều này có thể thực hiện được bằng cách ức chế chọn lọc 1 enzym của oxyt hóa beta acid béo: chuổi dài 3-ketoacyl CoA thiolase (3-KAT).
Sự ức chế này đưa đến kết quả:
-
giảm thiểu oxyt hóa acid béo
- kích thích oxyt hóa glucose
Kết hợp thủy phân glycogen cùng với oxyt hóa glucose được cải thiện và sản xuất ATP tăng lên, trong khi tế bào nhiễm acid và thừa Ca2+ bị giới hạn. Tăng sử dụng glucose toàn phần đã được chứng minh qua nghiên cứu PET ( 18FDG Positron Emission Tomography).

Chứng minh điều lợi của cơ chế tác dụng chuyển hóa này:
1/ Vastarel MR giảm thiểu thay đổi bên Na và pH bên trong tế bào khi tưới máu trở lại: một nghiên cứu của nhóm giáo sư Feuvray ở Pháp nhắm đánh giá trimetazidine có giảm mất cân bằng ion do tưới máu trở lại sau khi thiếu máu cục bộ, nhất là qua suy giảm biến đổi H+ và Ca2+ bên trong tế bào. Tác giả thấy giảm đáng kể mất cân bằng ion trong khi thiếu máu cục bộ và tưới máu trở lại, hổ trợ cho tác dụng bảo vệ tế bào do điều hòa chuyển hóa với Trimetazidine.

2/ Vastarel MR bảo vệ tế bào: trimetazidine bảo vệ màng tế bào bằng cách tăng cường thay đổi phospholipids.
3/ Vastarel MR cải thiện tình trạng chuyển hóa của tế bào tim: một nghiên cứu tiến hành bởi Spadafora và cộng sự, đánh giá hiệu quả của vastarel MR lên thu nhận 99Tcm-tetrofosmin vùng cơ tim tưới máu thấp ở bệnh nhân bệnh động mạch vành. Sự tích tụ tetrofosmin trong ty lạp thể (mitochondria) liên quan đến khả năng tải nạp năng lượng chuyển hóa thành hiệu số điện thế âm ở màng tế bào. Kết quả cho thấy, Vastarel MR có thể tăng lượng thu nạp vào cơ tim chất tetrofosmin ở vùng máu qua ít khi nghỉ ngơi ở bệnh nhân bệnh động mạch vành dựa trên tác dụng chuyển hóa.
Giải thích của giáo sư M Marzilli khoa tim đại học Siena ở Ý:
Mới đây có chứng minh khi ức chế chuổi dài 3-KAT trong ty lạp thể, trimetazidine điều hòa năng lượng chuyển hóa qua tác dụng ức chế oxyt hóa acid béo, và khuyến khích oxyt hóa glucose. Trên căn bản quan sát này, vastarel MR được xem là tượng trưng cho mô hình một nhóm thuốc trị đau thắt ngực mới gọi là chất ức chế 3-KAT.
Khi đổi dạng chuyển hóa năng lượng tim từ oxyt hóa acid béo thành oxyt hóa glucose, Vastarel MR có tác dụng bảo vệ tim trực tiếp đã được ghi nhận trong nhiều mẫu nghiên cứu và xác nhận ở người khi luồn ống thong vào động mạch vành và ở bệnh nhân phẩu thuật “bypass” động mạch và động mạch vành. Vastarel MR không có tác dụng huyết động học.
Trong nhiều nghiên cứu ngẫu nhiên, viển tưởng, Vastarel MR cho thấy có lợi cho bệnh nhân với nhiều hội chứng thiếu máu cục bộ khác nhau, kể cả bệnh đau thắt ngực mãn tính do gắng sức, nhồi máu cơ tim cấp, rối loạn chức năng tâm thất trái sau khi thiếu máu cục bộ, và bệnh cơ tim không rõ nguyên nhân, mà không có can thiệp bởi nhịp tim và huyết áp.
Với cơ chế tác dụng đặc biệt, thuốc này cung cấp cơ hội lớn kết hợp với những thuốc cổ điển tác dụng lên huyết động học, có lợi cho bệnh nhân hơn và cải thiện dung nạp lâm sàng.
Trimetazidine cho suy tim:
Trimethazidine hiện nay là chất ức chế oxyt hóa acid béo tự do (FFA: Free Fatty Acid) nên có thể gọi là chất chẹn FFA (FFA-blocker). Những nghiên cứu ở Âu châu và Á châu gợi ý thuốc cải thiện chức năng tâm thất trái. Trimetazidine được chấp thuận ở những khu vực này để điều trị bệnh đau thắt ngực.
Trimetazidine có tính chống thiếu máu cục bộ, điều này có nghĩa thuốc giúp tim giữ mức oxy và máu cao đủ. Tuy nhiên, thuốc này không ảnh hưởng tiêu thụ oxy. Thuốc giảm nhiễm acid tế bào, calcium quá tải và hư hại do gốc tự do đưa đến thiếu máu cục bộ. Thuốc thay đổi sản xuất năng lượng của tim từ acid béo tự do sang sử dụng glucose, nên duy trì được hoạt động của tim trái.
Các nhà nghiên cứu cho 28 người suy tim 20 mg trimetazidine ngày 3 lần thêm thuốc điều trị căn bản và cho 27 người suy tim khác chỉ dùng thuốc suy tim căn bản. Thời gian theo dõi trung bình là 13 tháng. Khi bắt đầu nghiên cứu, những người suy tim được cho làm xét nghiệm thể dục và siêu âm. Tỷ lệ tống xuất (EF) và mức suy tim được đo.
Bệnh nhân dùng trimetazidine, mức suy tim cải thiện so với nhóm điều trị suy tim căn bản. Trimetazidine cải thiện thể tích tim trái trung bình 98 ml cho đến 81 ml, tăng EF từ 36 đến 43%. Ở nhóm bệnh nhân chỉ dùng điều trị căn bản, thể tích tim trái cuối thời kỳ tâm trương tăng trung bình 142 ml cho đến 156 ml và thể tích tâm thu từ 86 ml đến 104 ml. EF ở nhóm điều trị căn bản đi xuống trung bình từ 38 xuống 34%.
Trimetazidine có vẻ bảo vệ tim khỏi bị những tác dụng xấu do thiếu máu cục bộ, và tăng cường sức bơm của tim ở người suy tim với tế bào đông miên (tế bào cơ tim không làm việc mặc dầu không chết và có thể làm việc trở lại).
Suy tim mãn làm xấu đi phẩm chất và thời gian còn sống nhiều hơn ở người bệnh tiểu đường. Trimetazidine giảm oxyt hóa beta acid béo, nên tim dùng đường glucose để tạo năng lượng. Sự thay đổi này giúp tim hoạt động tốt hơn ở người bệnh tiểu đường.
Các nhà nghiên cứu xem chức năng tim sau 1 tháng dùng trimetazidine thêm vào điều trị căn bản bệnh tiểu đường tip 2 và suy tim xung huyết. 20 bệnh nhân tiểu đường suy tim thiếu máu cục bộ tham dự nghiên cứu. Tuổi trung bình 66 và suy tim độ 2 đến 3. Họ uống trimetazidine 60 mg mỗi ngày hay thuốc vờ với thiết kế chéo. Bác sĩ đo dung nạp vận động, siêu âm, hình ảnh Doppler của mô khi nghỉ ngơi và vận động trước và trong khi nghiên cứu.
Dung nạp vận động không thay đổi ở cả 2 nhóm, tỷ lệ tống xuất EF khi nghỉ và vận động vừa phải chỉ cải thiện ở nhóm dùng trimetazidine trong giai đoạn đầu. Đo TDI (Tissue Doppler Imaging) không thay đổi nhiều trong khi điều trị. Trong thử nghiệm sớm này, chỉ có 1 dấu hiệu yếu tăng lượng máu bơm ra khi nghỉ và khi vận động. Cần có thêm nghiên cứu ở người suy tim xung huyết kèm theo bệnh tiểu đường.

Theo J Am Coll Cardiol 09.05.2006

Dược sĩ Lê Văn Nhân

Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Dược Phẩm