TÓM TẮT MỘT SỐ TIN THUỐC ĐẦU THÁNG 9/08
Dược sĩ Lê-văn-Nhân


Ma-nhê huyết thấp ở người uống omeprazol:

Báo y khoa của Anh BMJ ngày 19.07.08 báo cáo trong phần y khoa thực hành, quan sát 2 ca mức ma-nhê xuống thấp ở 2 bệnh nhân 78 và 81 tuổi điều trị dài ngày, trong chế độ thuốc có cả omeprazol. Ngoài Mg, Ca và kali cũng xuống thấp, mặc dầu bệnh nhân được cho uống thuốc bổ túc Mg, Ca và K. Sau khi ngưng omeprazol, mức các khoáng chất trên trở lại bình thường và nhất là tình trạng lâm sàng cải thiện đáng kể.
Tác giả báo cáo nghĩ rằng ma-nhê xuống thấp liên quan đến uống omeprazol hay esomeprazol, những thuốc ức chế bơm proton này cản trở hấp thụ ở ruột các muối khóang trên vì không cho tiết ra acid dạ dày.
Tại Việt-nam, một số bệnh nhân điều trị tại khoa tim được cho dùng viên Mg-B6. Dược sĩ nên thông báo cho bác sĩ tương tác này, nếu cần giảm tiết acid dạ dày, nên đổi qua thuốc kháng H2.
Nguy cơ viêm tuyến tụy khi dùng exenatide:
Ngày 18.08.08, FDA khuyến cáo nên chú ý nguy cơ viêm tuyến tụy ở người bệnh tiểu đường điều trị bằng exenatide.
Chỉ định của exenatide (Byetta) là điều trị bệnh tiểu đường tip 2 cùng với metformin và sulfamid hạ đường khi các thuốc uống này không đủ để kiểm soát mức đường.
Cơ chế tác dụng chính của Exenatide là tăng tiết insulin từ tế bào tuyến tụy beta của tuyến tụy. Khi những tế bào này bị hủy hoại, tiêm exenatide không mang lai lợi ích nào, mà phải dùng insulin.
Xin nhắc lại, exenatide tiêm dưới da ngày 2 lần, trong vòng 1 giờ trước bữa ăn chính.
Hai tin trên được đăng lại trên Pharmacorama tháng 9/08 bằng tiếng Pháp.
Aspirin/dipyridamole so với Clopidogrel để ngừa tái phát đột quỵ: cả hai có kết quả giống nhau.
Thông thường, bác sĩ có thể cho dùng aspirin, clopidogrel hay kết hợp aspirin/dipyridamole để ngừa tái phát đột quỵ. Trong một nghiên cứu mù đôi, ngẩu nhiên PRoFESS, 20232 bệnh nhân tình trạng lâm sàng ổn định, tuổi trung bình 50 mới bị đột quỵ do thiếu máu cục bộ, uống aspirin 25 mg/dipyridamole 200 mg ngày 2 lần, hay clopidogrel 75 mg ngày một lần. Nghiên cứu được tài trợ của viện bào chế thuốc Aggrenox, biệt dược aspirin/dipyridamole).
Trong thời gian theo dõi 2.5 năm, tái phát đột quỵ xảy ra 9.0% ở nhóm dùng aspirin/ dipyridamole và 8.8% ở nhóm dùng clopidogrel, khác biệt không đáng kể trên mặt thống kê. Tỷ lệ sinh kết quả phụ (đột quỵ, nhồi máu cơ tim, hay chết vì lý do mạch máu) là 13.1% ở cả 2 nhóm. Tỷ lệ sinh xuất huyết chính hơi cao ở nhóm aspirin/dipyridamole so với nhóm clopidogrel (4.1% so với 3.6%) chỉ mới chạm mức đáng kể, nhưng điểm chấm dứt tổng hợp đật quỵ, xuất huyết chính giống nhau cả 2 nhóm. Người dùng aspirin/dipyridamole bỏ nghiên cứu nhiều hơn, phần chính là do nhức đầu.
Nếu Aggrenox giá rẻ hơn Clopidogrel ở các nước nghèo như Việt-nam, thì nên nghĩ đến chọn thuốc rẻ tiền khi công hiệu phòng ngừa tái phát đột quỵ tương đương.
Theo NEJM 08.27.08
Lipitor (atorvastatin) có ích cho người bệnh tiểu đường hay bệnh thận:
Người bệnh tiểu đường, bệnh động mạch vành hay suy thận mãn có lợi khi hạ mức cholesterol với liều cao Lipitor, theo báo cáo của Mayo Clinic.
Bác sĩ James Shepherd đại học Glasgow ở anh cùng cộng sự giải thích trên báo Mayo Clinic Proceedings: bệnh nhân vừa bị tiểu đường vừa suy thận mãn có nguy cơ cao về biến cố tim mạch và tử vong hơn người chỉ mắc một bệnh. Nhóm của bác sĩ Shepherd quan sát hiệu quả điều trị tấn công giảm cholesterol bằng liều cao atorvastatin so với liều thấp ở bệnh nhân bệnh động mạch vành và bệnh tiểu đường tip 2, có hay không suy thận mãn.
Trong số bệnh nhân bệnh thận, biến chứng ở tim xảy ra ở 14% người dùng liều cao atorvastatin và 21% ở người dùng liều thấp trong thời gian theo dõi 5 năm.
Các nhà nghiên cứu tính ra cần phải điều trị thêm 14 bệnh nhân để tránh 1 biến cố bằng liều cao atorvastatin. Cả hai liều atorvastatin đều dung nạp tốt
Theo Mayo clinic Proceedings tháng 8/08.
Adiponectin, chất đánh dấu nguy cơ bệnh tiểu đường tip 2(TD2):
Adiponectin tỷ lệ nghịch với nguy cơ bệnh TD2 ở phụ nữ, nhưng resistin thì không, theo kết quả nghiên cứu viển tưởng báo cáo ngày 2 tháng 9 trên báo The annals of Internal Medicine. Tác giả nghiên cứu gợi ý adponectin có thể là chất đánh dấu cho bệnh TD2.
Theo bác sĩ y tế công cọng Christin Heidermann, đại học y tế công cọng Harvard, adiponectin và resistin mới được khám phá là adipokine có thể cung cấp liên hệ phân tử giữa béo mập và bệnh TD2. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định xem lượng adiponectin và resistin toàn phần và phân tử lượng cao adiponectin và resistin có liên quan đến nguy cơ bệnh TD2 không, mà không kể yếu tố béo mập hay những yếu tố nguy cơ khác của bệnh tiểu đường.
Nghiên cứu gồm 1038 phụ nữ tham dự vào nghiên cứu sức khỏe nhân viên điều dưỡng mức căn bản ban đầu là khỏe mạnh nhưng sau đó sinh bệnh TD2 khi thử máu (1989-1990) đến năm 2002. Nồng độ huyết tương adiponectin và reistin toàn phần và trọng lượng phân tử cao của adiponectin và reistin của những người tham dự được so sánh với 1136 người tương ứng trong nghiên cứu.
Mức adiponectin liên quan đáng kể đến nguy cơ thấp bệnh TD2 ở mẫu nhiều biến số được điều chỉnh với chỉ số khối lượng cơ thể (BMI). Số 1/5 cao nhất so với 1/5 thấp nhất, tỷ số khác biệt là 0.17 với adiponectin toàn phần và 0.10 cho adiponectin phân tử lượng cao. Ngay cả sau khi điều chỉnh adiponectin toàn phần, tỷ số cao adiponectin phân tử lượng cao trên adiponectin toàn phần liên quan đến nguy cơ thấp đáng kể bệnh TD2.
Mức resistin cao liên quan đến nguy cơ cao bệnh tiểu đường nhưng sau khi điều chỉnh với BMI, thì không còn khác biệt đáng kể.
Giới hạn của nghiên cứu này gồm mẫu nghiên cứu phần chính là phụ nữ da trắng, nên có thể có những biến số chưa đo lường được; và kết quả chỉ dựa trên kết quả đo lường adipokine, do đó có thể không phản ảnh tác dụng lâu dài của những hormone này.
Adiponectin liên quan chặt chẽ và ngược với nguy cơ bệnh tiểu đường, không phụ thuộc chỉ số khối lượng, trong khi resistin không như vậy. Tỷ số adiponectin phân tử lượng cao trên adponectin toàn phần liên quan đến nguy cơ bệnh tiểu đường, không phụ thuộc adiponectin, gợi ý tỷ số này đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh lý bệnh tiểu đường.
Theo Ann Intern Med 09/08
Ibuprofen có thể là điều trị được chuộng hơn cho sốt trẻ em.
Để giảm thời gian trẻ em phải chịu đựng cơn sốt, nên dùng ibuprofen trước, và suy nghĩ lợi hại khi dùng kết hợp paracetamol + ibuprofen trong 24 giờ, theo kết quả của một nghiên cứu ngẩu nhiên có kiểm chứng báo cáo ngày 2 tháng 9 trên báo y khoa Anh quốc.
Theo bác sĩ Alastair D. Hay đại học Bristol, vương quốc anh và cộng sự, thì lý do điều trị sốt gồm giảm khó chịu, kiểm soát cơn sốt và ngăn ngừa kinh giật do sốt. Paracetamol và ibuprofen, cả hai cho thấy hơn giả dược, và ibuprofen hơn paracetamol để giảm cơn sốt. Vì thuốc có cơ chế tác dụng khác nên khi dùng kết hợp có lẽ công hiệu hơn là dùng chỉ một thứ thuốc, nhưng chứng cứ lúc này còn sơ sài và trái ngược nhau.
Mục tiêu của nghiên cứu này là quan sát xem thử kết hợp ibuprofen + paracetamol có tốt hơn khi dùng một mình mỗi thứ thuốc để làm tăng thời gian không sốt và giảm khó chịu do sốt ở trẻ em bị sốt điều trị ở nhà. Họ chia các trẻ em này làm 3 nhóm, mù đôi, tại phòng mạch bác sĩ và tại nhà tại Anh quốc, xem hiệu quả tương đối lâm sàng nhiều liều paracetamol + ibuprofen so với mỗi thuốc dùng một mình.
Cha mẹ trẻ em tuổi từ 6 tháng đến 6 tuổi thân nhiệt đo ở nách từ 37.8o đến 41o C được hướng dẫn cách giảm nhiệt không cần thuốc. Ngoài ra, bệnh nhân mỗi nhóm được cho thuốc hạ sốt và hướng dẫn cách dùng (paracetamol + ibuprofen, paracetamol một mình và ibuprofen một mình).
Điểm chấm dứt chính là thời gian không sốt (<37.2 o C) trong 4 giờ sau liều đầu tiên, và tỷ số trẻ em báo cáo không khó chịu lúc 48 giờ. Điểm chấm dứt phụ là thời gian sốt biến mất ( lần đầu tiên thân nhiệt bình thường), thời gian không sốt trong 24 giờ, triệu chứng liên quan đến sốt, và tác dụng phụ.
Kết quả: kết hợp ibuprofen + paracetamol không thấy rõ ích lợi về thời gian khó chịu do sốt và tác dụng phụ ngang nhau.
Theo BMJ 09.02.08
FDA chấp thuận sửa đổi thông tin an toàn của 2 thứ thuốc sau:
1/ Levonorgestrel IUD (Mirena) về nguy cơ có thai ngoài tử cung:
Thuật ngữ: IUD (intrauterine device) theo tự điển y học Phạm-ngọc-Trí là vòng tránh thai hay dụng cụ trong tử cung.
Mirena là biệt dược của công ty Bayer cho vòng tránh thai tẩm levonorgestre tác dụng dài đặt vào tử cung.
Phụ nữ thụ thai trong khi đặt dụng cụ vào tử cung phải được bác sĩ đánh giá có bị có thai ngoài tử cung không. Theo FDA, có thể lên đến 50% trường hợp thụ thai ngoài tử cung với dụng cụ đặt vào tử cung. Mặc dầu có thai ngoài tử cung chỉ xảy ra 0.1% phụ nữ không có yếu tố nguy cơ trong thử nghiệm lâm sàng, tỷ số sinh có thai ngoài tử cung tăng cao khi bệnh nhân trước đó có thai ngoài tử cung, phẩu thuật ống dẫn trứng hay nhiễm trùng vùng chậu.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của kỹ thuật vô trùng, FDA cũng cảnh báo nguy cơ nhiễm khuẩn streptococcus nhóm A đã được báo cáo 9 trường hợp trong số 9.9 triệu người dùng cho đến tháng 9/06. Trong vài ca, bệnh nhân đau đớn trầm trọng xảy ra trong vòng mấy giờ sau khi đưa dụng cụ vào tử cung tiếp theo là nhiễm khuẩn mấy ngày sau. Vì chậm điều trị tăng nguy cơ chết người, bệnh nhân phải được thông báo nguy cơ nhiễm khuẩn trầm trọng mặc dầu hiếm khi xảy ra, có thể xảy ra sau khi sinh, sau phẩu thuật hay từ vết thương.
Đặt vòng thuốc vào tử cung cũng tăng nguy cơ hiếm gặp đâm vào thành hay cổ tử cung, chỉ tìm thấy sau một thời gian., Nếu đâm thủng, phải rút bỏ dụng cụ ngừa thai. Viêm màng bụng dính, lủng ruột, nghẽn ruột, ap-xe, ăn mòn vùng nội tạng gần đó đã được báo cáo khi đặt dụng cụ tẩm thuốc này. Để giảm nguy cơ đâm lủng, đặt dụng cụ tẩm thuốc ngừa thai sau khi sinh phải hoãn lại cho đến khi hoàn tất tử cung co lại. Phụ nữ cho con bú cũng tăng nguy cơ bị đâm lủng.
Vì tác dụng ngừa thai của levonorgestrel IUD do cơ chế tác dụng tại chỗ, phụ nữ dùng dụng cụ này thường có chu kỳ trứng rụng với vỡ nang trứng. Trong vài trường hợp tịt nang trứng (follicular atresia) có thể chậm lại, làm nang trứng lớn ra ở khoảng 12% bệnh nhân. Mặc dầu phần lớn không có triệu chứng, vài nang trứng có thể gây đau vùng chậu hay giao hợp đau. Phần lớn nang trứng to ra biến mất ở tháng thứ 2 hay 3, và hiếm khi cần đến phẩu thuật.
FDA cũng cảnh báo phụ nữ đang mắc bệnh ung thư vú hay có bệnh sử bệnh này không nên dùng phương pháp ngừa thai bằng hormone, như levonorgestrel IUD.
Vòng xoắn nhả levonorgestrel chỉ định ngừa thai đến 5 năm. Dụng cụ này khuyên dùng cho phụ nữ có ít nhất 1 con.
Kháng sinh Linezolid (Zyvox) liên quan đến tương tác với thuốc đồng vận serotonin và adrenergic.
Ngày 06.20.08, FDA chấp thuận sửa đổi thông tin an toàn của thuốc linezolid (Zyvox) dạng viên nén hay hổn dịch uống, hay dạng tiêm, và khuyên không nên dùng thuốc này chung với thuốc ức chế MAO, thuốc đồng vận serotonin hay adrenergic.
Linezolid là thuốc ức chế thuận nghịch không chọn lọc monoamine oxydase và do đó có tiềm năng tương tác với thuốc đồng vận serotonin và adrenergic.
Do đó linezolid chống chỉ định cho bệnh nhân dùng thuốc ức chế MAO A và B (thí dụ phenelzine và isocarboxazid) trong vòng 2 tuần sau khi dùng nhóm thuốc này.
Mặc dầu không quan sát được trong nghiên cứu lâm sàng, đã có báo cáo sau khi thuốc ra thị trường hội chứng serotonin ở bệnh nhân dùng linezolid với thuốc đồng vận serotonin.
Trừ trường hợp bệnh nhân được theo dõi cẩn thận dấu hiệu của hội chứng này (rối loạn tri thức, sốt cao độ, phản xạ thái quá và cử động không phối hợp), nên tránh điều trị linezolid cho bệnh nhân có hội chứng carcinoid và dùng thuốc đồng vận serotonin như thuốc ức chế chọn lọc tái thu hồi serotonin, thuốc chống trầm cảm 3 vòng, thuốc đồng vận thụ thể serotonin 5-HT1 (triptans), meperidin và buspirone.
Vì tiềm năng tăng huyết áp, không nên dùng linezolid cho bệnh nhân không kiểm soát được huyết áp, u tế bào ưa chrome (pheochromocytoma)nhiễm độc do tuyến giáp (thyrotoxicosis), và ở bệnh nhân dùng thuốc tác động trực tiếp hay gián tiếp hệ giao cảm (như pseudoephedrin), thuốc co mạch (adrenalin, noradrenalin) hay thuốc đồng vận dopamine (dopamine và dobutamine).
Linezolid được chấp thuận cho điều trị nhiễm trùng bởi những vi khuẩn nhạy cảm. Chỉ định đặc biệt gồm cầu trùng ruột đề kháng vancomycin Enterococcus faecium, viêm phổi mắc ở bệnh viện, viêm phổi mắc ở cộng đồng, và nhiễm trùng da có biến chứng hay không.
Vitamin B12 có thể ảnh hưởng đến lão hóa não
Người cao tuổi với mức sinh tố B12 thấp có vẻ tăng nguy cơ teo não theo một nghiên cứu mới. Teo não liên quan đến bệnh Alzheimer và hỏng chức năng tri thức.
Nghiên cứu này được đang trên báo Neurology ngày 2/9, mặc dầu không xác nhận được mức B12 thấp làm cho não teo lại, nhưng gợi ý chúng ta phải ý thức về tình trạng B12, nhất là những người dễ bị thiếu B12 (người cao tuổi, người ăn chay trường, phụ nữ có bầu và cho con bú, các em bé) và nên có biện pháp giữ mức B12 ổn định bằng cách ăn uống cân bằng, theo lời của nhóm nghiên cứu tại đại học Oxford ở Anh quốc. Nguồn cung cấp B12 gồm thịt, cá, sữa.
Nghiên cứu này gồm 107 người tình nguyện tuổi từ 61 đến 87 tri thức bình thường lúc bắt đầu nghiên cứu. Tất cả người tham dự mỗi năm đều khám sức khỏe tổng quát, chụp hình MRI và trắc nghiệm tri thức cũng như lấy mẫu máu làm xét nghiệm.
Những người có mức B12 thấp khi bắt đầu nghiên cứu, có thể tích não thấp. Những người có mức B12 thấp nhất tăng nguy cơ gấp 6 lần giảm thể tích não so với người có mức B12 cao nhất.
Điều đáng chú ý là không có ai thiếu vitamin B12, ho chỉ ở mức thấp mà thôi.
Những yếu tố nguy cơ teo não khác gồm cao huyết áp, bệnh tiểu đường, và cao cholesterol.
Không những mức B12 là một yếu tố suy thoái tri thức có thể sửa đổi, mà có thể là dấu hiệu giúp bác sĩ đánh giá vấn đề tri thức sớm.

Ds Lê Văn Nhân

Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Dược Phẩm