FDA chấp thuận kết hợp AVODART và TAMSULOSIN để điều trị phì đại tuyến tiền liệt có triệu chứng
Dược sĩ Lê-văn-Nhân

Thuật ngữ:
- BPH (Benign Prostate Hyperplasia) phì đại tuyến tiền liệt
- Urethra: niệu đạo
- AUR ( Acute Urinary Retention) ứ tiểu cấp
- LUTS ( Lower Urinary Tract Symptoms) triệu chứng phần dưới đường tiểu
- IPSS ( International Prostate Symptom Score) thang điểm quốc tế triệu chứng tuyến tiền liệt
- DHT (DiHydroTestosterone) chất chuyển hóa từ testosterone

Avodart (Dutasteride) do công ty GlaxosmithKline viết tắt là GSK. Theo bản tin của GSK ngày 19.06.08, FDA đã chấp thuận kết hợp 2 thuốc này để điều trị lớn tuyến tiền liệt có triệu chứng, nhưng không thấy tên biệt dược. Kết hợp này cũng được cơ quan kiểm soát dược phẩm ở một số nước tại Âu châu công nhận. Hai thuốc Avodart và Tamsulosin đều ở dạng biệt dược tại Hoa-kỳ, giá đắt nên không phải bảo hiểm y tế nào cũng chịu thanh toán. Chúng tôi trình bày dược tính của mỗi thuốc và nghiên cứu chứng minh kết hợp này cho kết quả tốt hơn.
Lớn tuyến tiền liệt có tỷ lệ lưu hành cao và bệnh tiến triển từ từ, ảnh hưởng 50% đàn ông trên 50 tuổi và hơn 90% cụ ông trên 80 tuổi. Lớn tuyến tiền liệt làm thay đổi thói quen tiểu tiện vì tuyến này bao quanh niệu đạo. Với thời gian, tuyến tiền liệt tiếp tục lớn và triệu chứng khó tiểu có thể tệ hại hơn khi bàng quang mất khả năng làm rỗng. Nếu không chửa, trong trường hợp trầm trọng, lớn tuyến tiền liệt có thể sinh ra những rắc rối dài hạn như ứ nước tiểu cấp và cần phẩu thuật giải quyết, và trong một số trường hợp hiếm có thể làm hư hại thận và bàng quang.
Quý ông khi đi tiểu thấy luồng nước tiểu không mạnh, và khi tiểu xong còn nhỏ giọt, đi tiểu nhiều lần thì có thể bị chứng lớn tuyến tiền liệt và nên đi khám bác sĩ. Cách chửa có thể làm tuyến tiền liệt teo lại với các thuốc finasteride, dutasteride, không làm nghẽn đường tiểu nên sẽ tiểu tiện dễ dàng hơn. Hoặc dùng thuốc đối kháng α-1 để mở cổ bàng quang phía dưới cho nước tiểu thoát ra.
Finasteride: Trong tất cả các hợp chất được nghiên cứu ngừa ung thư tuyến tiền liệt, finasteride- thuốc lúc đầu dùng để điều trị chứng lớn tuyến tiền liệt- cho thấy hiệu quả nhất, giảm nguy cơ gần 25% trong nghiên cứu Prostate Cancer Prevention Trial tạm dịch là nghiên cứu ngừa ung thứ tuyến tiền liệt, được viện ung thư quốc gia Hoa-kỳ bảo trợ, kiểm chứng bằng giả dược, 7 năm nghiên cứu với 18 882 đàn ông Mỹ. Kết quả nghiên cứu hết sức tích cực nên chấm dứt sớm, theo bác sĩ Ian M. Thompson, người cầm đầu nghiên cứu và là giáo sư chủ nhiệm khoa niệu đại học y khoa Texas ở San Antonio, báo cáo công bố năm 2003 trên báo y khoa NEJM.
Finasteride là một chất chống androgen, ức chế enzyme trong tuyến tiền liệt biến testosterone ( một androgen) thành chất có hoạt tính mạnh hơn là DHT (Dihydrotestosterone), chất này làm tuyến tiền liệt lớn, tăng khả năng tình dục và có thể kích thích ung thư tăng trưởng.
Thuốc được xem là an toàn với tác dụng phụ rất ít, nhưng một trong những kết quả nghiên cứu ngừa ung thư tuyến tiền liệt cho thấy tăng phát hiện u bướu ung thư mức độ cao ở những người tham dự tìm thấy có ung thư. Một bài kèm theo của ban biên tập tờ báo đề nghị không nên đưa thuốc này ra thị trường vì tăng nguy cơ ung thư. Nhưng trong năm tiếp theo, phần lớn nhà nghiên cứu kết luận thuốc không làm tăng nguy cơ ung thư giai đoạn cao, mà chỉ giúp tìm ung thư dễ tìm hơn khi tuyến tiền liệt teo lại, theo lời của phó giáo sư khoa niệu đại học y khoa Texas ở Dallas và bài khảo cứu đăng trên báo Cancer.
Dutasteride: đây là một hóa dược gần giống finasteride dùng để trị bệnh lớn tuyến tiền liệt và có thể ngừa ung thư tuyến tiền liệt. Trong một nghiên cứu lớn pha 3 gọi là REDUCE ( Reduction by Dutasteride of Prostate Cancer Events) tạm dịch là dùng dutasteride giảm biến cố ung thư tuyến tiền liệt, tìm hiệu quả của thuốc ở 8250 bệnh nhân từ 50 đến 75 tuổi cao PSA (Prostate-specific antigen) là chất đánh dấu ung thư tuyến tiền liệt, nhưng làm sinh thiết âm tính.Lặp lại sinh thiết 2 đến 4 năm sau để xem thuốc có ngừa được ung thư không. Nghiên cứu này chưa chấm dứt và chưa cho thấy dutasteride có ngừa được ung thư tuyến tiền liệt hay không.
Tamsulosin: Tamsulosin là thuốc đối kháng alpha-1 chọn lọc ( α-1A ), thụ thể α-1A adrenoreceptor được cho là tham dự vào co thắt cơ trơn của tuyến tiền liệt và bang qung, tăng luồng nước tiểu tối đa và giảm nhẹ triệu chứng phần dưới đường tiểu (LUTS) ở bệnh nhân lớn tuyến tiền liệt. Tamsulosin 0.4 mg mỗi ngày được thiết kế biến đổi nhả thuốc (modified-release) để tăng luồng nước tiểu cực đại và cải thiện thang điểm triệu chứng. Tamsulosin hiệu quả với bệnh nhân có triệu chứng phần dưới đường tiểu từ nhẹ đến nặng liên quan đến lớn tuyến tiền liệt, và không can thiệp vào điều trị cao huyết áp. Nói một cách khác, thuốc này không hạ huyết áp, không gây hạ huyết áp thế đứng như những thuốc đối kháng α-1 không chọn lọc . Tamsulosin 0.4 mg ngày 1 lần có hiệu quả tương đương với alfuzocin 2.5 mg ngày 3 lần, với ít tác dụng hạ huyết áp hơn trong một nghiên cứu mù đôi, ngẫu nhiên trong 12 tuần. Thuốc có lợi ở bệnh nhân ứ nước tiểu cấp hay viêm tuyến tiền liệt mãn tính không nhiễm trùng, những người điều trị bằng sóng vi ba sinh nhiệt trong niệu đạo và ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt viêm niệu đạo do xạ trị. Chóng mặt và xuất tinh bất thường là tác dụng nghịch thường gặp, những tác dụng phụ ít gặp khác gồm suy nhược, hạ huyết áp tư thế và hồi hộp chỉ trong khoảng 1% đến 2%.
Nghiên cứu CombAT (Combination of Avodart and Tamsulosin):
FDA chấp thuận kết hợp Avodart và Tamsulosin dựa trên kết quả nghiên cứu CombAT, một trong những nghiên cứu lớn nhất về đàn ông lớn tuyến tiền liệt. Đây là nghiên cứu đầu tiên đánh giá lâu dài kết hợp giữa dutasteride và thuốc đối kháng α1. Kết quả nghiên cứu trình bày lần đầu tháng 9/07 tại đại hội quốc tế về niệu khoa ở Paris và đăng trong số tháng 2/08 báo Journal of Urology.
Kết quả nghiên cứu CombAT cho thấy kết hợp điều trị Dutasteride và Tamsulosin cho kết quả cao hơn đơn trị ở tháng thứ 12 và tiếp tục cho đến tháng thứ 24. Điểm chấm dứt nghiên cứu chính là thay đổi IPSS ( thang diểm quốc tế triệu chứng tuyến tiền liệt) từ mức căn bản, ở tháng thứ 24 với kết hợp điều trị so với đơn trị.
Phản ứng nghịch thường gặp nhất khi dùng kết hợp là bất lực, giảm ham muốn tình dục, rối loạn vú (vú lớn và căng đau), rối loạn xuất tinh và choáng váng.
Chúng tôi chưa biết lúc nào GSK sẽ đưa kết hợp này ra thị trường.

Tài liệu tham khảo về tính chống ung thư:
Can Prostate Cancer Be Prevented?
Eric A Klein Nat Clin Pract Urol. 2005;2(1):24-31.

Dược sĩ Lê-văn-Nhân

Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Dược Phẩm