 |
Hướng dẫn
mới nhất của Tổ Chức Y Tế Thế Giới về Sử Dụng Thuốc Chống Siêu Vi CÚM
(H1N1)
Dược sĩ Lê-văn-Nhân
Ngày 20 tháng 8 năm 2009, tổ chức y tế thế giới đưa ra
bản hướng dẫn mới cho các bác sĩ về sử dụng những thuốc chống siêu vi
có sẵn hiện nay đối phó với đại dịch cúm mới A (H1N1) có thể xảy ra nay
mai.
Lời khuyên mới nhắm vào oseltamivir (Tamiflu) và Zanamivir
(Relenza) là những chất ức chế neuramidinase của siêu vi và amantadine
(Symmetrel) và rimantadine (Flumadine) là những chất ức chế M2.
Lời khuyên điều trị cúm
A (H1N1):
Với những bệnh nhân đã được xác
nhận hay nghi ngờ mạnh nhiễm cúm đại dịch A (H1N1) 2009, khi thuốc chống
siêu vi cúm có sẵn, nên theo hướng dẫn sau đây:
Oseltamivir (Tamiflu)
phải được kê đơn, và khởi sự điều trị càng sớm càng tốt, cho những bệnh
nhân bệnh nặng hay có triệu chứng lâm sàng tiến triển (lời khuyên mạnh
mẻ, chứng cứ chất lượng thấp). Tùy thuộc đáp ứng lâm sàng, liều cao cho
đến 150 mg ngày 2 lần và thời gian điều trị lâu hơn có thể được chỉ định.
Lời khuyên này áp dụng cho tất cả nhóm bệnh nhân, kể cả phụ nữ mang thai,
bé sơ sinh, trẻ em nhỏ hơn 5 tuổi.
Zanamivir (Relenza) chỉ định cho những bệnh
nhân bệnh trầm trọng hay tiến triển khi không có oseltamivir hay không
dùng được, hay khi siêu vi đề kháng với oseltamivir nhưng biết là còn
đáp ứng với zanamivir (lời khuyên mạnh mẻ, chứng cứ chất lượng rất thấp).
Điều trị chống siêu vi không bắt buộc ở bệnh
nhân không ở trong nhóm nguy cơ, bị bệnh không biến chứng, gây ra bởi
cúm mùa hay nghi ngờ cao nhiễm siêu vi cúm mùa (lời khuyên yếu, chứng
cứ chất lượng thấp). Những bệnh nhân xem như có nguy cơ là các em bé dưới
1 tuổi và trẻ em dưới 5 tuổi; người lớn trên 65 tuổi, người ở trong viện
điều dưỡng, phụ nữ mang thai, bệnh nhân có thêm bệnh khác mãn tính như
tim mạch, hô hấp, hay bệnh gan, bệnh tiểu đường; bệnh nhân suy yếu hệ
miển nhiễm vì bệnh ác tính, nhiễm HIV hay những bệnh khác.
Điều trị Oseltamivir hay Zanamivir phải bắt
đầu càng sớm càng tốt sau khi bệnh phát ở bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ
bị bệnh không biến chứng gây ra do nhiễm siêu vi cúm mùa (lời khuyên mạnh
mẻ, chứng cứ chất lượng rất thấp).
Lời khuyên dùng thuốc phòng cúm H1N1
Lời khuyên đặc biệt về việc dùng thuốc chống siêu vi đề
ngừa cúm đại dịch A(H1N1) 2009 như sau:
- Khi nguy cơ truyền bệnh
từ người qua người cao hay thấp, và xác suất biến chứng bệnh nhiễm cao,
hoặc do chủng influenza hoặc do nguy cơ căn bản của nhóm bị phơi nhiễm,
dùng oseltamivir hay zanamivir có thể được nghĩ đến như là phòng ngừa
sau phơi nhiễm cho cộng đồng hay nhóm chịu tác động, cho cá nhân ở trong
nhóm có nguy cơ, hay cho nhân viên y tế (lời khuyên yếu, chứng cứ chất
lượng trung bình).
- Những cá nhân trong nhóm có nguy cơ hay
nhân viên y tế không cần phải cho dùng thuốc ngừa chống siêu vi nếu khả
năng sinh biến chứng bệnh nhiễm thấp. Lời khuyên này phải được áp dụng
không phụ thuộc nguy cơ truyền bệnh từ người qua người (lời khuyên yếu,
chứng cứ chất lượng thấp).
Để điều trị nhiễm từ nhẹ đến trung bình không biến chứng với nhiều siêu
vị phụ đi cùng nhóm siêu vi cúm A với độ nhạy thuốc chống siêu vi khác
nhau, bệnh nhân thuộc nhóm có nguy cơ phải được điều trị bằng oseltamivir
hay Zanamivir cọng với thuốc ức chế M2 (chú ý amantadine không được dùng
cho phụ nữ có thai). Những bệnh nhân khoẻ mạnh khác không cần phải điều
trị.
Khi biểu hiệu lâm sàng nhiễm với nhiều siêu vi phụ đi cùng
với cúm A với độ nhạy thuốc chống siêu vi khác nhau, nếu bệnh trầm trọng
hay đang tiến triển, tất cả bệnh nhân phải được điều trị với Oseltamivir
và thuốc ức chế M2, hay Zanamivir.
Để điều trị biểu hiện nhiễm nhẹ đến trung bình, không biến
chứng, nhiễm siêu vi cúm A lẻ tẻ từ động vật sang người kể cả H5N1, nhóm
có nguy cơ phải được điều trị với Oseltamivir hay Zanamivir, và những
(otherwise-healthy) với Oseltamivir. Tất cả bệnh nhân, bất kể tình trạng
nguy cơ, nhiễm nặng hay đang tiến triển với siêu vi cúm A từ động vật
qua người kể cả H5N1 phải được điều trị bằng Oseltamivir thêm thuốc ức
chế M2.
Nói thêm về thuốc ức chế M2 hay
adamantane:
Amantadine và rimantadine ức chế kết nối
giữa hạt siêu vi (capside hay virion) của siêu vi cúm A và màng huyết
tương tế bào cible. amantadine và rimantadine gắn vào protein của kênh
ion của nhân siêu vi (nucelocapside) cúm gọi là M2, thụ thể này không
hiện diện ở cúm B. Protein M2 điều hòa pH của siêu vi và sự biến dạng
(conformation) của hemagglutinin can thiệp vào việc kết nối tế bào cible.
Amantadine dùng trong điều trị cúm ngừa bệnh và trị bệnh
khi bắt đầu bệnh, cũng như trong điều trị bệnh Parkinson.
Tác dụng không mong muốn chính thuộc kiểu tâm thần kinh:
căng thẳng, mất ngủ, đôi khi lẫn lộn và ảo giác, hiếm khi bị động kinh.
Siêu vi đề kháng với adamantane phát triển rất nhanh trong
khi điều trị, vì một đột biến đơn ở vị trí acid amin 26, 27, 30, 31 hay
34 của protein M2 có thể gây phản ứng chéo cho cả 2 thuốc amanta dine
và rimantadine.
Năm 2006, CDC khuyến cáo không nên dùng amantadine và rimantadine
để điều trị hay ngừa cúm mùa tại Hoa-kỳ. Do đó, không nên dùng amantadine
hay rimantadine để ngừa cúm A (H1N1).
Dược sĩ Lê-văn-Nhân
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết
này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |