 |
VIÊN ĐA
DƯỢC GIẢM NGUY CƠ TIM MẠCH
Dược sĩ Lê-văn-Nhân
Giới thiệu:
Vấn đề này đã được bác sĩ Nguyễn-văn-Thịnh
viết mục Thời sự y học số 126 và 127 trong www.yduocngaynay.com, với quan
điểm của ngành y khoa Pháp. Chúng tôi trình bày lại dựa theo các bản tin
gốc trên những báo ngoài nước Pháp.
Ds LVN
Khái niệm về viên đa dược:
Năm 2003, trong một bài đăng trên
báo y khoa Anh BMJ, hai bác sĩ Malcolm R Law và Nicholas Wald (viện y
khoa phòng ngừa Wolfson và đại học y khoa London, đại học y khoa nữ hoàng
Mary Liên hiệp Anh) đưa ra ý niệm viên “polypill” mà chúng tôi tạm dịch
là viên đa dược, gồm nhiều món thuốc khác nhau trong một viên thuốc. Họ
tổng hợp phân tích meta của nhiều nghiên cứu riêng rẻ từng món thuốc để
ước lượng hiệu quả kết hợp của viên đa dược lên bệnh suất và tử suất bệnh
tim mạch, và đề nghị cho dùng cho những người đang có bệnh tim mạch và
những người ở các quốc gia Tây phương từ 55 tuổi trở lên.
Viên đa dược giảm nguy cơ
tim mạch:
Trong bài báo Chiến lược giảm bệnh
tim mạch hơn 80% (A strategy to reduce cardiovascular disease by more
than 80%) đăng trên BMJ ngày 28 tháng 6-2003, hai tác giả đưa ra giả thuyết
nếu dùng những thuốc đã biết rõ và rẻ tiền kết hợp trong 1 viên thuốc
duy nhất gọi là viên đa dược, thì sẽ điều trị đặc biệt công hiệu chống
bệnh tim mạch. Họ đưa ra một mẫu thống kê gợi ý dùng rộng rải viên đa
dược có thể giảm tử suất do bệnh tim và đột quỵ lên đến 80%. Thuốc này
rẻ tiền, với ít tác dụng phụ ( có lẽ 10-15% người dùng) và nghiên cứu
dựa trên dữ liệu từ nhiều thử nghiệm riêng rẻ trên mỗi món thuốc thành
phần.
Ý niệm của hai bác sĩ này là giảm những nguy cơ có thể
thay đổi được của bệnh tim mạch như cao huyết áp, cholesterol, và dùng
liều thấp aspirin giúp phòng ngừa bệnh tim và đột quỵ. Tuy nhiên, cho
đến nay, chưa có nghiên cứu nào ở Âu Mỹ thực hiện trên người, hổ trợ cho
ý niệm viên đa dược.
Thành phần viên đa dược gồm 6 món thuốc trong đó có 3 món
thuốc hạ huyết áp ở liều thấp:
- 1 thuốc lợi tiểu như bendroflumethiazide
- 1 beta-blocker như atenolol
- 1 thuốc chống men chuyển như enalapril
- 1 statin như simvastatin
- aspirin 75 mg
- folic acid 1 mg
Viên Polycap (viên nang đa
dược) tại Ấn-độ:
Viên Polycap là viên 5 trong 1,
gồm 5 món thuốc trong 1 viên nang với thành phần:
- Atenolol 50 mg
- Thiazide 12.5 mg
- Ramipiril 5 mg
- Simvastatin 20 mg
- Aspirin 100 mg
để ngừa sự cố tim mạch.
Nghiên cứu TIPS (The Indian Polycap Study) được
công ty dược phẩm Ấn Cadilla Pharmaceuticals Ltd tài trợ, được điều khiển
bởi bác sĩ Salim Yusuf đại học McMaster ở Hamilton,Ontario Canada, và
bác sĩ Prem Pais đại học y khoa St.John ở Bangalore Ấn-độ. Kết quả nghiên
cứu ngẩu nhiên, kiểm chứng và mù đôi, được báo cáo trong tháng 3 năm 2009
tại buổi thuyết trình của Hội bác sĩ chuyên khoa bệnh tim Hoa-kỳ và xuất
bản online trên báo Lancet, ghi lại kết quả sau cùng của 2000 người tuổi
trung bình 54, tất cả đều có ít nhất 1 yếu tố nguy cơ tim mạch như bệnh
tiểu đường, cao cholesterol huyết, cao huyết áp, béo mập hay hút thuốc.
Trong 12 tuần điều trị, 400 người dùng viên Polycap. Những
người cón lại chia thành 8 nhóm nhỏ mỗi nhóm 200 người:
- 1 nhóm chỉ dùng aspirin
- 1 nhóm chỉ dùng simvastatin
- 1 nhóm chỉ dùng thiazide
- 3 nhóm chỉ dùng 2 trong 3 thuốc hạ huyết áp
- 1 nhóm dùng cả 3 thuốc hạ huyết áp
- 1 nhóm dùng cả 3 thuốc hạ huyết áp kèm theo aspirin
Những người dùng viên Polycap thấy huyết áp hạ 6-7 mm Hg
cả huyết áp tâm thu lẫn tâm trương. Sự giảm huyết áp này có thể giảm nguy
cơ bệnh tim 62% và đột quỵ 48% dựa trên kết quả những nghiên cứu khác
khi giảm được huyết áp. Viên Polycap công hiệu như khi dùng các viên thuốc
từng món riêng rẻ mà không tăng thêm tác dụng phụ.
Kết quả nghiên cứu TIPS cho thấy mỗi thành phần
của viên POLYCAP đã tác dụng như mong đợi: statin giảm cholesterol, 3
thuốc trị tăng huyết áp giảm huyết áp càng nhiều khi càng có nhiều món,
và aspirin giảm khả năng kết tập tiểu cầu.
Họ tìm thấy một kết quả ngoài dự đoán là mức giảm cholesterol
của viên POLYCAP hơi kém hơn khi dùng simvastatin riêng rẻ. Tác dụng này
có thể liên quan đến tốc độ chuyển hóa của simvastatin trong viên POLYCAP.
Trên vấn đề dung nạp , mặc dầu tỷ số người bỏ cuộc cao
hơn dự tính trong nghiên cứu 12 tuần (15%), nhưng phần lớn do những yếu
tố xã hội và bệnh nhân từ chối điều trị.
Thử thách của viên đa dược là gì? Thứ nhất,có khoảng 3-8%
bệnh nhân tăng creatinin, Kali huyết và chức năng gan; nên điều chỉnh
như thế nào cho những bệnh nhân này? Có nên ngưng thuốc khi 1 thành phần
của viên đa dược gây tác dụng phụ? Vấn đề thứ hai, là cần có một nghiên
cứu lớn hơn và lâu dài hơn, để xem viên đa dược có giảm được tử suất,
nhồi máu cơ tim và đột quỵ không? Vấn đề thứ ba là liều lượng. Viên đa
dược chỉ có 1 liều trung bình cho mỗi món, trong khi luật lệ yêu cầu cần
có những viên với tỷ lệ thành phần khác nhau để bác sĩ điều chỉnh theo
lâm sàng. Vấn đề thứ tư, là những người có yếu tố nguy cơ nhưng cao huyết
áp, thí dụ hút thuốc, dùng cả 3 món trị tăng huyết áp có thể gây phù mạch,
không dung nạp glucose hay tim đập chậm.
Nên cung cấp thuốc trị huyết
áp cho tất cả mọi người:
Bác sĩ Law và Wald, tác giả đề xướng
viên đa dược, tái xuất hiện với 1 phân tích meta đăng trên báo BMJ ngày
05.19.09. Trong phân tích này, gồm bệnh nhân từ 60 đến 69 tuổi, họ tìm
hiệu quả định lượng từng món thuốc trị cao huyết áp để ngửa bệnh động
mạch vành tim và đột quỵ. Họ cũng muốn xác định ai sẽ được điều trị.
Tổng quát, kết quả phân tích meta cho thấy ở người trong
lứa tuổi 60 đến 69 với huyết áp ≥ 150/90 mm Hg, 3 món thuốc với nửa liều
chuẩn trong viên đa dược giảm nguy cơ bệnh động mạch vành tim phỏng chừng
46% và đột quỵ khoảng 62%. Tuy nhiên, khi dùng riêng rẻ, mỗi món thuốc
trị huyết áp ở liều chuẩn chỉ tạo ra được nửa tác dụng này.
Năm nhóm thuốc trị tăng huyết áp: thiazid, beta-blocker,
thuốc chống men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin và thuốc chẹn kênh
calcium- đều công hiệu giống nhau ngăn ngừa tai biến bệnh động mạch vành
tim và đột quỵ, trừ thuốc chẹn kênh calcium, có tác dụng ngừa đột quỵ
cao hơn 4 thuốc kia, nhưng giảm tỷ suất suy tim 19% so với các thuốc kia
giảm 24%.
Bệnh nhân có hay không bệnh tim mạch đều hưởng lợi như
nhau, giảm % tai biến bệnh động mạch vành và đột quỵ ngang nhau, bất kể
huyết áp trước khi điều trị là bao nhiêu. Ngay cả những bệnh nhân có huyết
áp được xem là thấp 110/70 mm Hg, cũng cho thấy giảm tai biến bệnh động
mạch vành tim và giảm tỷ suất sinh đột quỵ khi dùng thuốc trị cao huyết
áp.
Phê bình bài phân tích meta này, bác sĩ Elliott, đại học
y khoa Rush, Chicago ở Hoa-kỳ, không đồng ý dùng viên đa dược cho mọi
người mà không cần đo huyết áp. Ông bảo hành động này không khác gì ném
em bé vào trong bể tắm không cần biết em bé có biết bơi hay không. Ông
bảo phân tích meta trên gồm cả 37 nghiên cứu dùng beta-blocker so với
giả dược cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim. Bệnh nhân nhồi máu cơ tim và bệnh
nhân có những nguy cơ khác là hai quần thể khác nhau không thể gộp lại
được.
Bác sĩ Franz Messerli, bệnh St Luke’s-Roosevelt ở New York
bảo những người có bệnh động mạch vành tim có thể huyết áp giảm (đặc biệt
là sau nhồi máu cơ tim), nên không đáp ứng giống như người chỉ cao huyết
áp. Nhiều nghiên cứu cho thấy beta-blocker không giảm nguy cơ bệnh động
mạch vành tim, mặc dầu có giảm huyết áp. Cũng cần nhắc lại, là bác sĩ
Messerly, đã báo cáo nghiên cứu TNT ( Treating to New Target) tạm dịch
là điều trị đến mục tiêu mới, trong hội nghị bệnh cao huyết áp trong tháng
5-2009, có đề cập đến đường biểu diễn hình chữ J , trục tung là tỷ suất
tai biến tim mạch lớn như chết do bệnh động mạch vành, nhồi máu cơ tim
không chết, đứng tim cứu được và đột quỵ,và trục hoành là huyết áp. Khi
giảm huyết áp thì tỷ suất tai biến tim mạch giảm, nhưng sau khi đến điểm
thấp nhất, nếu tiếp tục hạ huyết áp, thì tỷ suất tai biến này sẽ tăng
cao trở lại.
Phác đồ điều trị đơn giản
4 bước cải thiện kiểm soát huyết áp
Bác sĩ Ross D Feldman (viện nghiên cứu y khoa London)
và cộng sự, đăng 1 bài nghiên cứu trong báo Hypertension số tháng 4 năm
2009, bảo huyết áp kiểm soát tốt hơn khi bác sĩ gia đình được cung cấp
phác đồ điều trị đơn giản 4 bước, dùng kết hợp nhiều thuốc trị cao huyết
áp ở liều thấp.
Các nhà nghiên cứu đưa ra phác đồ STICH (Simplified Treatment
Intervention to control Hypertension) tạm dịch là Can thiệp điều trị đơn
giản để điều trị tăng huyết áp, với 4 bước, bắt đầu là liều thấp thuốc
lợi tiểu + thuốc ức chế men chuyển, hay thuốc lợi tiểu + ARB ở tỷ lệ nhất
định; đưa dần lên liều cao nhất; thêm thuốc chẹn kênh calcium và tăng
liều lên dần; và thêm 1 thuốc hạ huyết áp không ở trong tuyến đầu.
Nghiên cứu này thực hiện ở Canada, dùng phác đồ này so
với bảng hướng dẫn điều trị cao huyết áp của Canada, sau đó đánh giá tỷ
lệ bệnh nhân đạt được huyết áp mục tiêu sau 6 tháng điều trị< 140/90
mm Hg cho người không có bệnh tiểu đường, và < 130/80 mm Hg cho người
có bệnh tiểu đường). Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu cao hơn đáng kể ở nhóm
can thiệp (64.76% so với 52.7%) và sau khi điều chỉnh nhiều biến số, thấy
phác đồ đơn giản tăng cơ may đạt huyết áp mục tiêu 20%.
Kết luận:
Chúng ta thấy nước Anh và khối Liên hiệp Anh thiên
về y tế công cọng, muốn giảm số tai biến tim mạch và đột quỵ trong toàn
dân, nên không chú ý đến những trường hợp riêng lẻ. Ấn-độ, và có thể tất
cả những nước đang phát triển, trong đó có cả Việt-nam, với nguồn tài
nguyên nhân lực không nhiều về y tế và ngân sách giành cho chăm sóc sức
khoẻ dân chúng giới hạn, có thể hưởng lợi nếu có 1 viên đa dược không
tốn kém nhiều và tương đối an toàn, để nhân viên y tế ngay ở cấp thấp
nhất, cũng có thể cung cấp cho bệnh nhân có nguy cơ tăng huyết áp một
viên thuốc làm giảm huyết áp, từ đó sẽ giảm được nguy cơ bệnh tim mạch
và đột quỵ.
Tại Mỹ, viên thuốc kết hợp chỉ có tối đa 2 món, nên không
thể gọi là viên “polypill” hay viên đa dược. Chúng ta thấy tại Mỹ, điều
trị cao huyết áp sớm hơn và tinh vi hơn. Chỉ có bảng hướng dẫn điều trị
cao huyết áp JNC 7 của Mỹ mới phân loại “tiền cao huyết áp” cho những
người huyết áp > 120/80 mm Hg nhưng dưới 140/90 mm Hg. Những người
này được theo dõi sát hơn, và bác sĩ thường điều trị bằng phương pháp
không dùng thuốc như thay đổi lối sống, bỏ hút thuốc, tập thể dục, vân
vân. Ngoài ra, luật lệ bảo vệ người tiêu thụ tại Mỹ cũng cao hơn, bác
sĩ phải theo dõi và hướng dẫn bệnh nhân tránh tác dụng phụ. Cho bệnh nhân
dùng viên “polypill” trong đó có simvastatin, thuốc này có thể tác dụng
lên gan hay gây tiêu cơ cho 1 số nhỏ bệnh nhân nếu không theo dõi. Aspirin
cũng có thể gây xuất huyết ruột, nên cần có bác sĩ khám để bảo đảm an
toàn cho bệnh nhân trước khi dùng aspirin.Nếu chỉ dùng cho tác dụng phòng
ngừa chứ chưa có bệnh, tại sao không dùng 1 món thuốc hạ huyết áp thay
vì phải 3 món? Hơn nữa, beta-blocker mặc dầu hạ huyết áp, nhưng thường
không dùng để điều trị cao huyết áp. Trong chỉ định dùng cho suy tim sung
huyết, atenolol không có trong danh sách thuốc đề nghị sử dụng. Trong
một bài trên báo chuyên khoa tim tháng 10/08, bác sĩ Franz H. Messerli
bảo số tử vong tăng cao khi hạ huyết áp có thể do dùng atenolol.
Chúng ta chờ đợi 1 công thức viên đa dược khác hoàn
hảo hơn trong tương lai.
Dược sĩ Lê văn Nhân
>>>back>>>
|
 |