 |
Chuyện
dài về nghiên cứu trái Bưởi
Dược sĩ Lê-văn-Nhân
Năm ngoái nhiều tờ báo ở Việt-nam dịch một bản tin bảo ăn bưởi sẽ tăng
nguy cơ ung thư khiến mọi người không dám ăn bưởi và thiệt hại cho nhà
vườn trồng bưởi rất nhiều. Bản tin này dựa trên một bài đăng trên tờ báo
The British Journal of Cancer tức là tờ báo chuyên khoa ung thư của Anh
trong năm 2007. Nghiên cứu này cho thấy ung thư vú tăng trong số những
phụ nữ sau tuổi mãn kinh và đã ăn nửa trái bưởi mỗi 2 ngày.
Trong một nhóm gồm hơn 40 000 phụ nữ ăn khoảng nửa trái
bưởi cách nhật, tăng nguy cơ ung thư vú hơn 30% so với những người không
ăn, sau khi đã xem lại các nguy cơ khác. Các nhà khoa học bảo họ nghi
ngờ có 1 enzym trong trái bưởi Mỹ được biết là CYP3A4 có khả năng làm
tăng mức estrogen tức là nội tiết tố nữ trong người.
Những người phiên dịch ở Việt-nam không để ý là nghiên
cứu này chỉ nhắm vào phụ nữ cao tuổi sau tuổi mãn kinh, và một số người
bảo bưởi Mỹ là Citrus paradisi không phải là bưởi Việt-nam Citrus grandis
nên bưởi Việt-nam không gây ung thư. Tuy nhiên, trong sách Cây thuốc và
động vật làm thuốc ở Việt-nam của nhà xuất bản Khoa học lại bảo tên ngoại
quốc của trái bưởi là Pomelo hay Pamplemousse tức là trái bưởi ở Âu Mỹ,
và không có một chi tiết nào cho biết thành phần hay dược tính của bưởi
Việt-nam khác với trái bưởi gọi là grapefruit ở Âu Mỹ.
Nhưng năm nay lại có một nghiên cứu khác về bưởi Âu Mỹ
cũng đăng trên cùng tờ báo The British Journal of Cancer. Họ phân tích
dữ liệu của nghiên cứu sức khỏe nhân viên điều dưỡng với hơn 77 ngàn phụ
nữ tuổi từ 35 đến 55 trong nhiều năm. Các nhà khoa học nhìn vào lượng
quả bưởi hay nước bưởi ăn uống hàng ngày và thấy không tăng nguy cơ ung
thư vú ở toàn thể phụ nữ hay ở nhóm sau tuổi mãn kinh. Kết quả này hoàn
toàn trái ngược với kết quả lần trước.
Mặc dầu 2 nghiên cứu trên có dân số lớn, nhưng qua một
thời gian dài phát sinh những yếu tố khác, nếu chỉ nhìn vào hồi cứu, có
thể các nhà khoa học chưa thể thấy hết nên kết quả công bố chẳng khác
gì người mù sờ voi.
Có lẽ những nghiên cứu dựa trên trả lời bảng tham khảo
người tham dự về cách ăn uống rồi đưa đến kết luận về một số bệnh tật
nào đó sau này có thể giải thích là: giới hạn nghiên cứu gồm lời khai
chủ quan của người tham dự, thiết kế nghiên cứu chỉ có quan sát, và không
thể loại bỏ khả năng những yếu tố không lường trước có thể góp phần vào
những điều quan sát trong nghiên cứu.
Điều các nhà khoa học xác nhận là trái bưởi grapefruit
chứa furanocoumarins gồm bergamottin và dihydrobergamottin có thể ức chế
sắc tố tế bào P450 như 3A4. Ngoài ra bergamottin còn ức chế CYP 1A2, 2A6,
2C9, 2C19, 2D6 và 2E1. Nước bưởi grape fruit cũng chứa naringin, naringenin,limonin
và obacunone được biết ức chế tiểu thể gan người (human hepatic microsome).
Những chất ức chế men P450 trên ngăn cản chuyển hóa nội
tiết tố estrogen nên có thể làm lượng estrogen trong người lên cao có
khả năng gây ung thư vú hay tử cung. Nhưng các nhà nghiên cứu quên không
cho biết phụ nữ Anh Mỹ trong những thập niên cuối thế kỷ 20 đều uống nội
tiết tố nữ để làm dịu bốc hỏa sau tuổi mãn kinh hay tránh bị khô âm đạo,
do đó mức estrogen mới tăng cao đến mức nguy hiểm. Phụ nữ Việt-nam không
dùng thuốc này, nên dầu nghiên cứu trên có thật cũng khó gây ung thư.
Một điều khác cần lưu ý là sau một năm, vẫn chưa có nghiên
cứu nào của các đại học y dược hay khoa học tự nhiên tại Việt-nam chứng
minh được bưởi Việt-nam có và không có những tính chất nào của bưởi grapefruit.
Chúng tôi xin trình bày sau đây 2 nghiên cứu về những điều
lợi của bưởi grapefruit:
I. Flavonoid của bưởi grapefruit
có thể sửa chữa DNA, bảo vệ chống ung thư:
Bưởi grapefruit và cam chứa những flavonoid khiến
các nhà khoa học chú ý vì khả năng tiêu diệt các gốc tự do. Các nhà nghiên
cứu Hoa-kỳ và Trung quốc báo cáo 1 flavonoid đặc biệt, naringenin, có
tác dụng chống ung thư ngoài tác dụng chống oxýt hóa. Naringenin chưa
được ghi vào các sách dược liệu ở Việt-nam.
Một nghiên cứu đăng trên báo Journal of Nutritional Biochemistry
(sinh hóa dinh dưỡng) tháng 2 năm 2006 quan sát tác dụng của naringenin
sửa chữa DNA ở mẫu cấy tế bào ung thư tuyến tiền liệt con người (giòng
tế bào LNCaP).
Sửa chữa DNA là một yếu tố quan trọng để phòng ngừa ung
thư vì không cho sinh sản tế bào đột biến. Nguy cơ ung thư tuyến tiền
liệt, loại ung thư phổ thông nhất ở đàn ông tại Hoa-kỳ, tăng theo tuổi
tác. Khi quý ông càng già, tế bào càng dễ bị những tác dụng oxýt hóa,
từ đó sinh tăng hư hại DNA.
Các nhà khoa học của đại học UCLA Hoa-kỳ và đại học Tôn
Dật Tiên (Zhongshan) Trung quốc bảo cảm ứng sửa chữa DNA của naringenin
có thể góp phần vào tác dụng phòng ngừa ung thư liên quan đến tăng ăn
uống các trái cây chứa flavonoid.
Mức độ sửa chữa được đo bằng tỷ số 8-hydroxydeoxyguanosine
(8-OH-dG) trên deoxyguanosine (dG). Chất trên là sản phẩm do gốc tự do
–OH tấn công tìm thấy trên đoạn DNA bị hư hại, và chất dưới hiện diện
trong tế bào lành mạnh. Sau 24 giờ tiếp xúc với 80 mmol/Lit naringenin,
tỷ số này giảm 24%, cho thấy flavonoid đã kích thích sửa chữa DNA.
Naringenin được đề nghị là kích thích BER (Base Excision
Repair) sửa chửa DNA trong tế bào ở giai đoạn sao chép. Điều này được
hổ trợ vì tăng đáng kể 2 enzym chính trong đường phản ứng BER, DNA poly-beta
và hOGGI.
Từ 2 đến 15% flavonoid ăn vào có thể hấp thụ qua đường
ruột vào máu, cho thấy sinh khả dụng bị giới hạn. Một nghiên cứu đăng
trên European Journal of Clinical Nutrition (báo dinh dưỡng lâm sàng Âu
châu vol. 56 trang 891-898) báo cáo nồng độ trong huyết tương sau khi
ăn thực phẩm giàu flovonoid trong khoản 0.5 đến 1 mmol/L.
Nghiên cứu trên cho tế bào cấy tiếp xúc với 80 mmol/L là
điều không thể thực hiện được trong điều kiện sinh lý. Tuy nhiên các nhà
khoa học bảo nồng độ naringenin bên trong tế bào bằng 0.5% nồng độ naringenin
trong môi trường, nên vẫn ở trong giới hạn sinh lý.
II. Naringenin trong bưởi
grapefruit và những quả chanh cam khác có thể giúp chống viêm gan C.
Một toán nghiên cứu của Trung tâm kỹ thuật y khoa bệnh
viện toàn khoa Massa-chusetts (Massachusetts General Hospital-Center for
Engineering Medicine) bào cáo HCV hay siêu vi viêm gan C gắn liền vào
VLDL (Very Low Density Lipoprotein) khi chất này được tế bào gan tiết
ra, siêu vi mới có cơ hội xâm nhập và nhiễm các tế bào gan khác. Nhưng
flavonoid naringenin lại ngăn chận không cho VLDL tiết ra. Như vậy nếu
kết hợp naringenin và thuốc chống siêu vi có thể giúp bệnh nhân xóa sạch
siêu vi trong gan.
Điều này gợi ý dùng thuốc hạ lipid huyết hay những chất
tự nhiên như naringenin kết hợp với thuốc chống siêu vi, có thể giảm hay
loại bỏ siêu vi ở người bệnh.
HCV là nguyên nhân hàng đầu gây viêm gan mãn tính tại Hoa-kỳ
và nhiễm khoảng 3% dân số toàn thế giới. Thuốc chống siêu vi hiện nay
chỉ công hiệu ở một nửa số bệnh nhân, 70% người bị nhiễm phát sinh nhiễm
mãn tính có thể đưa đến xơ gan hay ung thư gan. Vì siêu vi không sát nhập
chất di truyền vào DNA của tế bào bị nhiễm như siêu vi HIV, nên có thể
xóa sạch siêu vi nếu các tế bào mới sinh không nhiễm các siêu vi tiết
ra.
Vị đắng của bưởi grapefruit do sự hiện diện của
flavonois naringin, chất này sẽ được chuyển hóa thành naringenin, một
chất chống oxyt hóa trước kia được báo cáo giúp hạ mức cholesterol. Nghiên
cứu cho thấy HCV trong tế bào gan bị nhiễm, đi nhờ con đường chuyển hóa
của lipoprotein-cholesterol. Vì naringenin có thể làm giảm tiết VLDL từ
tế bào gan, các nhà nghiên cứu tìm xem chất này có làm giảm tiết HCV từ
tế bào gan không. Thí nghiệm của họ cho thấy naringenin quả thật giảm
tiết HCV từ giòng tế bào bị nhiễm và chất này ức chế lipoprotein đặc biệt
gắn với HCV
Theo bác sĩ Raymond Chung, giám đốc phân khoa bệnh gan
và là 1 trong những người nghiên cứu, thì công trình này gợi ý dùng chất
dinh dưỡng ở mức độ không độc hại như naringenin, có thể ngăn chận tiết
HCV. Như vậy có hy vọng điều trị bệnh nhân không đáp ứng hay không dung
nạp được thuốc trị viêm gan C.
Bài này dựa trên bài báo “Apolipoprotein B dependent
Hepatitis C virus secretion is inhibited by the grapefruit flavonoid naringenin”
của Nahmias trong báo Hepatology tháng 5/08.
Báo Paris match ngày 21/5 cũng có một bài về nghiên cứu này và bác sĩ
Nguyễn-văn-Thịnh đã viết bài tóm tắt trong thời sự y học đăng trên
www.khoahoc.net.
Ds Lê Văn Nhân
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết
này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |