Hướng dẫn Điều Trị Rỗng Xương cho Bác sĩ Gia Đình
Ds Lê-văn-Nhân & Ds Trịnh Nguyễn Đàm Giang

Báo y khoa bác sĩ gia đình Hoa-kỳ số tháng 2/09 đưa ra hướng dẫn về sàng lọc, phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị bệnh rỗng xương. Bệnh này làm gia tăng gảy xương do khối lượng xương thấp và hư hỏng cấu trúc mô xương.

Tại Mỹ có khoảng 8 triệu phụ nữ và 2 triệu đàn ông bị rỗng xương, và 34 triệu người thiếu tế bào xương. Cứ 2 phụ nữ da trắng thì 1 người bị gảy xương do rỗng xương trong suốt cuộc đời, và đàn ông cũng không thoát khỏi bệnh rỗng xương, mặc dầu ít khi được dò tìm và điều trị bệnh này, đàn ông lại có tử suất cao hơn do gảy xương háng so với phụ nữ. Tử suất do gảy xương háng ở đàn ông cao hơn phụ nữ từ 10% đến 20% trong 12 tháng.
Cơ quan y khoa phòng ngừa Hoa-kỳ khuyên nên sàng lọc tất cả phụ nữ trên 65 tuổi và những phụ nữ từ 60 đến 64 nếu có nguy cơ cao bằng phương pháp DEXA ( Dual-Energy X-ray Absorptiometry). Một số tổ chức đề nghị nên sàng lọc cho bệnh nhân nam từ 70 tuổi trở lên.
Tiêu chuẩn DEXA cho rỗng xương, theo tổ chức y tế thế giới, là tỷ trọng chất khoáng xương sống hay xương chậu 2.5 SD (độ lệch chuẩn) hay dưới mức trung bình của phụ nữ khoẻ mạnh (T-score ≤ 2.5). Tiêu chuẩn thiếu xương (osteopenia) là mật độ xương sống hay xương chậu giữa 1 và 2.5 SD của mức trung bình.
Giảm chức năng tuyến sinh dục với tuổi tác đưa đến mất xương được xem là rỗng xương chủ yếu, trong khi bệnh mãn tính, phơi nhiễm, thiếu dinh dưỡng tác dụng lên chuyển hóa xương là rỗng xương thứ cấp.
Điều trị tuyến đầu cho người rỗng xương chẩn đoán bằng DEXA hay gảy xương trước đó gồm đề phòng té ngã, ăn đủ calcium ít nhất 1200 mg mỗi ngày và vitamin D ít nhất 700-800 IU/ngày.
Điều trị biphosphonate cũng được khuyên dùng. Với bệnh nhân chọn lọc nhóm phụ, raloxifene, calcitonin, teripatide hay nội tiết tố thay thế đều có thể được nghĩ đến. Raloxifen có thể dùng liều uống 60 mg mỗi ngày cho người gảy xương sống.

Lời khuyên đặc biệt phòng ngừa gảy xương và điều trị rỗng xương kèm theo mức chứng cứ như sau:
  • Để giảm nguy cơ té ngã, người cao tuổi có nguy cơ té ngã phải nghĩ đến tập thể dục, vật lý trị liệu, đánh giá và sửa đổi nguy cơ trong nhà, và giảm dần hay ngưng thuốc điều trị tâm thần (mức chứng cứ B).
  • Người từ 60 tuổi trở lên phải dùng thêm thuốc bồi dưỡng vitamin D (ít nhất 700-800 IU), với hay không có vcalcium, để giảm nguy cơ gảy xương ( mức chứng cứ B).
  • Để ngừa gảy xương do rỗng xương, biphosphoant được khuyên dùng cho những chỉ định sau (mức chứng cứ A):
    -         Alendronate, uống 70 mg mỗi tuần để ngừa gảy xương sống, xương háng hay không phải xương sống.
    -         Ibandronate, uống 150 mg mỗi tháng, để ngừa gảy xương sống.
    -         Risedronate, uống 35 mg mỗi tuần, để ngừa gảy xương sống, xương háng hay không phải xương sống.
    -         bandronate tiêm mạch 3 mg mỗi 3 tháng để tăng mật độ xương, mặc dầu kết quả dứt điểm chưa được đánh giá.
    -         Zoledronic acid 5 mg/năm trong 3 năm, tiêm mạch để ngừa gảy xương sống, xương háng hay không phải xương háng. 
  • Với phụ nữ sau tuổi mãn kinh bị rỗng xương, nhất là người có nguy cơ cao ung thư vú, có thể dùng raloxifene để ngừa gảy xương sống (mức chứng cứ A)
  • Với phụ nữ sau tuổi mãn kinh, calcitonin có thể dùng để ngừa gảy xương sống trở lại (mức chứng cứ B)
  • Với phụ nữ sau tuổi mãn kinh trước đó có gảy xương sống, terapatide có thể dùng để ngừa xảy ra lại gảy xương sống hay không phải xương sống( mức chứng cứ A).

Lời khuyên lâm sàng đặc biệt cho nhóm dân số phải được sàng lọc bệnh rỗng xương:

  • Tất cả phụ nữ ≥ 65 tuổi (mức chứng cứ A)
  • Phụ nữ chọn lọc sau tuổi mãn kinh và đàn ông từ 50 đến 69 tuổi và người có yếu tố nguy cơ gảy xương (mức chứng cứ C)
  • Tất cả đàn ông ≥ 70 tuổi (mức chứng cứ C)

Theo Am Fam Physician 2009;79:193-200

Sau đây là 2 thông tin về zoledronic acid, do Ds Trịnh Nguyễn Đàm-Giang cung cấp:
1/ Nguy cơ rung nhĩ thấp nhưng không chắc chắn:
Trong 1 thử nghiệm nghiên cứu phụ nữ rỗng xương sau tuổi mãn kinh, nhiều phụ nữ dùng zoledronic trải qua loạn nhịp tim trầm trọng so với người không dùng (1.3% so với 0.5%) .Loạn nhịp tim nguy hiểm đến tính mạng hay làm cho bệnh nhân phải nhập viện hay tàn phế.
Tính chất lâm sàng của tác dụng nghịch này không rõ và cần phải được xác nhận. Nguy cơ rung nhĩ với zoledronic acid không thấy ở bệnh nhân vừa mới gảy xương háng hay bệnh ác tính. Khuynh hướng tăng nguy cơ quan sát được với alendronate (Fosamax), nhưng kết quả của các nghiên cứu đối chọi nhau.
2/ Hiệu quả điều trị trên 3 năm của zoledronic acid không biết:
Không nên dùng zoledronic acid trên 3 năm vì hiệu quả và an toàn quá thời gian này không biết được. Chứng cứ sử dụng trong 5 năm bị giới hạn ở 1 nghiên cứu nhỏ kéo dài và không mù (N=119), và không đủ để hổ trợ cho điều trị lâu dài. Tác dụng lâu dài của zoledronic acid trên xương, và tác dụng khi ngưng thuốc nếu tác dụng nghịch xảy ra cũng không biết. Biphosphonat tồn tại trong xương nhiều năm. Trong những nghiên cứu với zoledronic acid, tỷ số xương gảy không lành hay kéo dài thời gian liền xương không khác biệt đáng kể so với giả dược;tuy nhiên, kết quả thử nghiệm chưa được đánh giá.
3/ Vai trò của zoledronic acid trong ung thư vú:
Một phương pháp khác ngoài việc dùng Tamoxifene hay ức chế aromatase, để chống tái phát đối với các ung thư vú phụ thuộc hormone của phụ nữ trẻ (dưới 50 tuổi) là zoledronic acid. Các thầy thuốc ung thư học đã trình bày những kết quả của một công trình nghiên cứu của Áo trên 1800 phụ nữ. Nơi những phụ nữ được tiêm truyền zoledronic acid mỗi 6 tháng và suốt trong 3 năm, ngoài điều trị kháng hormone, người ta đã quan sát nhận thấy nguy cơ giảm tái phát 30%
Kết quả này được giải thích là trong trường hợp ung thư, người ta nghĩ rằng xương tạo nên một loại bình chứa đối với những tế bào ung thư đã thành công di tản rời xa vú. Từ đó, các tế bào ung thư này lan tràn trong cơ thể. Zoledronic acid, khi gắn vào cấu trúc xương, sẽ ức chế quá trình định cư của những tế bào ác tính và làm ngắn lại thời gian tồn tại của chúng.
Thông tin thứ ba này trích bài của bs Nguyễn-văn-Thịnh trên www.yduocngaynay.com số tháng 1/09.

Ds Trịnh Nguyễn Đàm Giang viết thêm: Thưa anh Nhân,
V/V điều trị ung thư vú nói chung với Zoledronic (3) cũng rất là thiếu sót.
Chúng ta phải biết là liều trị ung thư vú là 4 mg/ truyền 15 min, frequency cũng thay đổi, trường hợp trong (3) chi nói đến 1 loại ung thư, và không thấy nói đến liều thuốc.
Xin phép gửi anh Nhân vài links bổ túc những điểm đã gửi anh tối hôm qua:
http://content.nejm.org/cgi/content/full/356/18/1809
http://www.cancertreatmentreviews.com/article/S0305-7372(05)00163-5/abstract
http://www.merck.com/mmpe/sec04/ch036/ch036a.html#sec04-ch036-ch036a-677

Đặc biết giúp sinh viên học hỏi thêm phải kể:
http://www.merck.com/mmpe/index.html

Ds Trịnh Nguyễn Đàm Giang & Ds Lê-văn-Nhân

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Dược Phẩm