 |
BẢNG TIN
THUỐC THÁNG 8/2009
Dược sĩ Lê-văn-Nhân
Kết hợp interferon và ribavirine
điều trị viêm gan C.
Hiện nay người ta điều trị viêm gan C bằng
Peginterferon alfa-2a hay alfa-2b kết hợp với thuốc uống ribavirin. “Peg”
(PEG: Poly-Ethylen-Glycol) là chất dùng để kéo dài tác dụng của interfron
để có thể chỉ tiêm mỗi tuần 1 lần. Một nghiên cứu đăng trên NEJM 07.22.09
cho thấy dùng interferon nào kết hợp với ribavirin cũng cho hiệu quả giống
nhau.
Tên biệt dược tại Hoa-kỳ:
|
Generic |
Biệt
dược |
|
Peginterferon
alfa-2b |
Peg-intron |
|
Peginterferon
alfa-2a |
Pegasys |
|
Ribavirine |
Copegus,
Rebetol |
|
Ribavirin/Interferon
alfa-2b |
Rebetron |
Mục tiêu của nghiên cứu là so sánh liều chuẩn và chế độ liều
thấp của peginterferon alfa-2b + ribavirin về hiệu quả và đáp ứng siêu vi
được duy trì cũng như mức dung nạp, sau khi quan sát thấy cả 2 liều này
cho tỷ số hiệu quả kéo dài trên siêu vi giống nhay mà không có ribavirin.
Một chế độ thứ ba, peginterferon alfa-2a + ribavirin được thêm vào để so
sánh.
Nghiên cứu phân phối ngẫu nhiên 3070 người nhiễm HCV genotype
1 chưa bao giờ được điều trị, bây giờ điều trị trong 48 tuần với 1 trong
3 chế độ trên.
|
Kết
hợp thuốc |
Liều |
%
đáp
ứng |
Khoảng
tin cậy 95% |
|
Liều
căn bản:
Peginterferon
alfa-2b +
ribavirin |
1.5
μg/Kg/tuần
800-1400
mg/n |
39.8% |
36.8%-42.8% |
|
Liều
thấp:
Peginterferon
alfa-2b +
ribavirin |
1.0
μg/Kg/tuần
800-1400
mg/n |
38.0% |
35.0%-41.0% |
|
Peginterferon
alfa-2a +
ribavirin |
180
μg/tuần
1000-1200
mg/n |
|
|
Khác biệt đáp ứng ước lượng là 1.8% giữa liều chuẩn và
liều thấp.
Khác biệt đáp ứng giữa liều chuẩn peginterferon
alfa-2b với peginterferon-alfa-2a là 1.1%. Tỷ lệ đáp ứng với interferon
alfa-2a cao hơn, nhưng tỷ lệ siêu vi tái phát cũng cao hơn.
Dùng xét nghiệm HCV RNA để đo mức tiêu diệt siêu vi ở tuần
lễ thứ 4 và thứ 12 liên quan chặt chẻ với đáp ứng siêu vi được duy trì
trong cả 3 chế độ.
Tác dụng nghịch giống nhau cả 3 nhóm. Tác dụng nghịch phổ
thông nhất gồm triệu chứng giống như cúm, trầm cảm, thiếu máu và giảm
bạch cầu trung tính.
Metoclopramide (Reglan) liên quan đến nguy
cơ loạn vận động trễ (TD)
Một số bệnh nhân tâm thần dùng thuốc chống loạn
trí điển hình như haldol lâu ngày có thể sinh loạn vận động trễ, với một
số cử động bất thường ngoài ý muốn ở mặt, lưỡi và tứ chi,và những tác
dụng này không thuận nghịch nghĩa là không chịu biến mất sau khi ngưng
thuốc.
Ngày 30 tháng 6, cơ quan FDA chấp thuận thay đổi thông
tin đính kèm thuốc metoclopramide về an toàn cả 3 dạng viên nén, viên
rả và thuốc tiêm, với một khung cảnh báo nguy cơ loạn vận động trễ.
Trong một nghiên cứu được công bố, loạn vận động trễ xảy
ra với tỷ số lưu hành 20% trong số những bệnh nhân dùng metoclopramide
ít nhất 12 tuần. Do đó, điều trị metoclopramide phải giới hạn trong vòng
3 tháng, trừ trường hợp bác sĩ đã cân nhắc lợi hại và thấy lợi cho bệnh
nhân nhiều hơn nguy cơ loạn vận động trễ.
Nếu bệnh nhân có dấu hiệu hay triệu chứng loạn vận động
trễ, metoclopramide phải ngưng ngay. Mặc dầu hiện nay chưa có thuốc chửa,
triệu chứng có thể giảm nhẹ hay biến mất sau nhiều tuần hay nhiều tháng
ngưng metoclopramide.
FDA cũng ghi chú dùng metoclopramide có thể loại bỏ dấu
hiệu loạn vận động trễ, nên che lấp diễn tiến bệnh ngầm phía sau. Metoclopramide
không được dùng để đàn áp triệu chứng loạn vận động trễ vì hiệu quả lâu
dài chưa biết được.
Metoclopramide chỉ định điều trị ngắn hạn (4-12 tuần) bệnh
trào ngược dạ dày ở bệnh nhân đề kháng với điều trị quy ước, hay để điều
trị triệu chứng liệt nhẹ dạ dày.
Khám phá gen hệ miển nhiễm
soi sáng nhiễm tụ cầu như thế nào?
Các nhà nghiên cứu đại học y khoa
Texas vùng tây nam đã hình dung gen tắt mở hệ miển nhiễm khi một người
nhiễm nặng tụ cầu Staphyloccus aureus.
Nghiên cứu thực hiện ở trẻ em nhiễm nặng Staphylococcus
aureus nhưng có thể áp dụng cho tất cả mọi người, đưa đến điều trị tốt
hơn kể cả chủng đề kháng methicillin (MRSA) được xem là vi trùng siêu
việt vì nhiều kháng sinh không tiêu diệt được.
Theo những điều tìm thấy đăng trên diễn đàn thảo luận y
khoa “PLoSOne”, gen miển nhiễm ở trẻ em, cung cấp đáp ứng ngay lập tức
bệnh nhiễm, trở nên hoạt động thái quá khi vi trùng S. aureus tấn công.
Trong khi đó, gen ở hệ miển nhiễm thích ứng trẻ em, nhớ lại những chận
chiến chống nhiễm trùng lần trước để có thể chiến đấu tốt hơn, lại bị
khóa tắt.
Theo một giáo sư nhi khoa của đại học này tham gia nghiên
cứu, các nhà nghiên cứu bây giờ biết hệ miển nhiễm đáp ứng như thế nào,
vấn đề đặt ra là có dùng phương pháp này để biết tiên lượng bệnh nhiễm
hay phân biệt bệnh nhân nhiễm nặng nhất với bệnh nhân nhiễm nhẹ, và kiến
thức này làm sao áp dụng để phát triển điều trị tốt hơn.
Theo bảng tin của đại học y khoa Texas vùng Tây Nam
07.14.09
Thuốc mới Ferumoxytol
Trong bản tin tháng 6, chúng tôi
đã giới thiệu thuốc bồi dưỡng sắt tiêm truyền Ferrlecit của viện bào chế
Watson. Hôm nay xin giới thiệu thuốc Ferumoxytol (biệt dược Feraheme của
công ty dược AMAG) để điều trị bệnh thiếu máu do thiếu sắt ở người lớn
suy thận mãn.
Ferumoxytol gồm oxyt sắt siêu từ hóa bao vỏ ngoài với carbohydrat
để giúp cô lập sắt có hoạt tính sinh học với những thành phần huyết tương
cho đến khi phức hợp này vào được đại thực bào của gan, lá lách và tủy
xương. Sắt được nhả ra từ phức hợp bên trong túi nhỏ đại thực bào và rồi
đi vào chỗ dự trữ sắt trong tế bào như ferritin hay nhờ transferrin chuyên
chở đến những tiền tế bào máu đỏ để đưa vào hemoglobin.
Thuốc sẽ bán ở dạng lọ tiêm 17 ml chứa 510 mg sắt nguyên
tố. Liều đầu tiên tiêm tĩnh mạch 510 mg với tốc độ cho đến 1ml/giây (30
mg/giây), liều thứ hai phải tiêm từ 3 đến 8 ngày sau. Những liều tiếp
theo sẽ tiêm nếu bệnh nhân vẫn còn bị thiếu máu do thiếu sắt.
Tác dụng phụ phổ thông nhất (tỷ lệ sinh tác dụng phụ ≥
2%) được báo cáo gồm huyết áp thấp, choáng váng. Do tiềm năng có thể sinh
quá mẫn và huyết áp thấp, bệnh nhân phải được quan sát ít nhất 30 phút
sau mỗi liều.
Dextropropoxyphen ở Âu
châu và Pháp
Tháng trước chúng tôi đã trình bày
về Propoxyphen tại Anh và Mỹ. Bây giờ đến phiên EMEA hay cơ quan kiểm
soát thuốc của Âu châu lên tiếng về những vụ tử vong ở Thụy-điển và Anh
quốc do dùng quá liều hợp chất Dextropropoxyphen + paracetamol, và cho
một thông báo không muốn giữ dextropropoxyphen trên thị trường. Cơ quan
an toàn sản phẩm y tế của Pháp (Afssaps) yêu cầu thu hồi thuốc trong vòng
1 năm. Biệt dược Di-Antalvic ( Dextropropoxyphene + paracetamol) bán ở
Pháp và Việt-nam.
Thuốc ức chế men chuyển
(ACE-I) trung ương có thể giúp ngừa sa sút trí tuệ
Có lẽ ngay cả giới y dược, ít người
biết thuốc ức chế men chuyển ACE lại còn chia làm 2 nhóm phụ.
- nhóm tác dụng ở trung ương gồm captopril, fosinopril,
lisinopril, perindopril, ramipril và trandolapril.
- nhóm không tác dụng ở trung ương gồm benazepril
(Lotensin), enalapril, moexipril và quinapril.
Quan sát mới của nhóm nghiên cứu sức khoẻ tim mạch cho
thấy thuốc ức chế men chuyển trung ương giảm suy thoái nhận thức đến 65%
mỗi năm khi tiếp xúc với thuốc, một tác dụng có lẽ do khả năng của thuốc
qua được màng chắn máu não.
Bác sĩ Kaycê M Sink, đại học y khoa Wake Forest North Carolina,
người cầm đầu nghiên cứu, bảo nếu tính chất này được xác nhận ở một nghiên
cứu ngẫu nhiên lâm sàng, thì chúng ta sẽ có thêm phương tiện để ngừa suy
giảm nhận thức.
Nghiên cứu gồm 414 bệnh nhân dùng thuốc chống men chuyển
và 640 người dùng những thuốc trị cao huyết áp khác. Các nhà nghiên cứu
không thấy liên quan giữa tiếp xúc với thuốc chống men chuyển và nguy
cơ sa sút trí tuệ, khác biệt về thang điểm nhận thức hay không sử dụng
được dụng cụ trong đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, phân tích theo tường
thuốc chống men chuyển thì thấy tác dụng khác biệt. Kết quả cho thấy những
thuốc chống men chuyển tác dụng ở trung ương liên quan đến giảm chức năng
nhận thức bớt đi 65% mỗi năm. Các nhà nghiên cứu nghi ngờ sự khác biệt
không phải do tính hạ huyết áp của thuốc chống men chuyển trung ương,
nhưng do tác dụng lên hệ reninangiotensin ở trung ương, tham dự vào trí
nhớ và nhận thức.
Bác sĩ Sink bảo nếu bệnh nhân nkhông bị chống chỉ định
với thuốc chống men chuyển, thì chuyển thuốc chống men chuyển qua thuốc
tác dụng ở trung ương có thể là một chọn lựa hợp lý để ngừa suy giảm nhận
thức.
Theo Arch Inern Med 07.13.09
Xét nghiệm mới tìm vi trùng
Chlamydia:
Chalamydia lây truyền qua đường
tình dục, nếu không chửa, có thể sinh bệnh viêm vùng chậu, vô sinh và
có thai ngoài tử cung cho phái nữ và phái nam cũng có thể không có con.
Tuy không phải là siêu vi, nhưng chlamydia không thể xét nghiệm bằng phương
pháp chẩn đoán vi trùng, vì nằm bên trong tế bào. Trước đây và có lẽ tại
Việt-nam, chỉ có thể tìm bệnh bằng phương pháp huyết thanh. Hiện nay,
tại Âu Mỹ người ta có thể dùng phản ứng chuổi polymerase như khi tìm HIV
và viêm gan do siêu vi B và C. Đại học Cambridge ở Anh đưa ra phương pháp
“Chlamydia Rapid test” dùng nước tiểu đầu giòng chứa nhiều vi trùng hơn
để thử.
So với phản ứng chuổi polymerase, “Chlamydia Rapid Test”
cho độ nhạy 82.6%, độ đặc thù 98.5%, trị số tiên đoán dương tính 84.1%
và trị số tiên đoán âm tính 98.3%. Hiện nay test này chưa bán ra thị trường,
nhưng có thể giá đắt trong thời gian đầu, nên chưa thể áp dụng cho những
nước nghèo như Việt-nam.
Theo BMJ 07.28.09
Xét nghiệm mới truy tìm
ung thư tuyến tiền liệt
Quý ông lớn tuổi tại Hoa-kỳ rất lo ngại về ung thư tuyến
tiền liệt. Xét nghiệm truy tìm hiện nay là PSA (Prostate Specific Antigen
tạm dịch là kháng nguyên đặc hiệu cho tuyến tiền liệt). Tuy nhiên PSA
cứ 4 trường hợp ung thư sớm tuyến tiền liệt, thì có 1 trường hợp PSA không
phát hiện được, và chỉ 1/3 người PSA cao đúng là bị ung thư. Sau đó phải
làm sinh thiết để xác nhận đúng là ung thư. Do đó người ta muốn tìm một
chất sinh học đánh dấu khác nhạy hơn và chính xác hơn.
Báo Nature ngày 02.12.09 chú ý đến chất sarcosine.
Sarcosine là chất chuyển hóa tìm ong nước
tiểu do phản ứng hóa học xảy ra trong cơ thể. Các nhà nghiên cứu phân
tích những chất chuyển hóa trong mẫu mô tuyến tiền liệt, máu và nước tiểu
ở phái nam không bị ung thư tuyến tiền liệt và ở những người ung thư tuyến
tiền liệt ở nhiều giai đoạn khác nhau. Sarcosine vắng mặt trong mô lành
mạnh, nhưng ở nồng độ cao (42%) khi ung thư nằm trong tuyến giáp và ở
mức cao hơn nữa (79%) nếu tiến đến di căn ra ngoài tuyến giáp.
Glycine-N-methyl transferase là enzym tạo ra sarcosine
từ glycine. Nếu làm hỏng enzyme này, sẽ làm giảm nhẹ xâm nhập ung thư.
Kết hợp thụ thể androgen và gen ERG phối hợp điều hòa đường tạo ra sarcosine.
Nghiên cứu RECORD về nguy
cơ tim mạch của rosiglitazone
Rosiglitazone và Pioglitazone là
2 thuốc trị bệnh tiểu đường thuộc nhóm PPAR-γ agonist (Peroxisome Proliferator
Activator) tạm dịch là tạm dịch là nhóm đồng vận gamma khích hoạt tăng
sinh Peroxisome (Peroxisome là những tiểu cơ quan bám trên màng tế bào
nhân điển hình chứa enzym oxyt hóa).
Năm 2007, sau khi một phân tích meta cho biết nhóm thuốc
này tăng nguy cơ suy tim, một nghiên cứu gọi là RECORD ( Rosiglitazone
Evaluated for Cardiac Outcomes and Regulation of Glycemia in Diabetes)
tạm dịch là đánh giá Rosiglitazone với hậu quả bệnh tim và điều hành mức
đường ở người bệnh tiểu đường, để xem thuốc này có tăng nguy cơ nhồi máu
cơ tim và chết do bệnh tim mạch không.
Trong tháng 7/2007, báo NEJM ở Hoa-kỳ cho biết nghiên
cứu trên không cho được kết luận rõ ràng về tăng nguy cơ nằm bệnh viện
hay chết do bệnh tim mạch khi dùng rosiglitazone điều trị bệnh tiểu đường.
Không có chứng cứ rosiglitazone tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim.
Tháng 6 năm 2009, báo Lancet ở Anh nêu lại nghiên cứu này,
nhưng đưa ra những nhận xét mới:
- mặc dầu kết quả nghiên cứu không chứng minh được
khác biệt giữa nhóm dùng hay không dùng rosiglitazone, nhưng tỷ lệ nguy
cơ (HR: Hazard Ratio) của rosiglitazone về nhồi máu cơ tim là 1.14, khiến
người ta nghĩ nguy cơ nhồi máu cơ tim có thể cao hơn mức báo cáo trước
đây, mặc dầu chưa có ý nghĩa thống kê.
- kết quả nghiên cứu chính là nằm bệnh viện hay
chết vì bệnh tim mạch thường gặp hơn ở người có bệnh thiếu máu cục bộ
tim, và vì bệnh này không phải lúc nào cũng chẩn đoán trước được, nên
rosiglitazone có thể tăng nguy cơ ở những người đang có bệnh thiếu máu
cục bộ tim mà không phát hiện được.
- Mặc dầu mức HbA1c giảm phần lớn người dùng rosiglitazone,
25% trong nhóm này cần phải dùng thêm thuốc khác để kiểm soát đường so
với 17% nhóm bệnh nhân chỉ dùng metformin + sulfonylurea. Trước đây người
ta bảo rosiglitazone có tác dụng lâu dài và làm nhạy cảm thụ thể insulin,
nhưng con số 25% trên không giải thích được, như vậy có đúng nhóm thuốc
này có nhiều ưu điểm hơn các nhóm khác không?
Tóm lại, nghiên cứu RECORD gợi ý rosiglitazone có thể an
toàn và hữu hiệu ở những bệnh nhân đã được chọn lọc kỹ. Tuy nhiên vẫn
không thể giảm quan ngại khi dùng nhóm thuốc này. bác sĩ vẫn phải cân
nhắc lợi hại trước khi dùng.
Người cao tuổi mắc bệnh tiểu đường
tránh dùng thuốc chống sa sút trí tuệ
Người cao tuổi mắc bệnh tiểu đường nếu dùng thuốc chống loạn trí để trị
chứng sa sút trí tuệ sẽ phải nhập viện do mức đường tăng cao, theo một
nghiên cứu trên Arch Intern Med 07.27.09.
Nhóm nghiên cứu của viện khoa học đánh giá lâm sàng
Toronto và bệnh viện đại học phụ nữ Toronto Canada nhìn vào hồ sơ 13 817
bệnh nhân tiểu đường tuổi từ 66 trở lên. Những bệnh nhân này bắt đầu uống
thuốc chống loạn trí từ tháng 4 năm 2002 cho đến tháng 3 năm 2006. Các
nhà nghiên cứu so sánh tỷ lệ nhập viện do cao đường huyết với những người
đã ngưng thuốc chống loạn trí hơn 180 ngày.
Họ cho biết thuốc chống loạn trí điển hình cũng
như thuốc mới không điển hình liên quan đến tăng cao số nhập viện do mức
đường huyết lên cao, có vẻ không phụ thuộc với mức đường căn bản trước
khi điều trị và mức đường tăng vọt khi bắt đầu dùng thuốc chống loạn trí.
Những nghiên cứu khác gợi ý chất chuyển tin thần
kinh dopamin có vai trò giữ mức đường trong vòng kiểm soát. Các nhà nghiên
cứu ghi chú khi bắt đầu dùng thuốc chống loạn trí, có thể hệ kiểm soát
này bị phá vỡ nên mức đường huyết tăng cao.
Tác giả kết luận, cho đến khi nào các nhà thông
thạo về vấn đề này làm thêm nghiên cứu, nên nghĩ đến chọn lựa khác để
kiểm soát hành vi sa sút trí tuệ ở người cao tuổi mắc bệnh tiểu đường.
Gia đình và người chăm sóc nên để ý dấu hiệu tăng đường khi bắt đầu dùng
thuốc chống loạn trí, và nên tăng cường theo dõi mức glucose huyết.
Thay đổi cảnh báo an toàn
thuốc:
a/ Ceftriaxone (Rocephin)
liên quan đến thiếu máu do Cephalosporin
FDA chấp thuận thay đổi cảnh báo an toàn của ceftriaxone tiêm về nguy
cơ bệnh thiếu máu tan huyết qua trung gian hệ miển nhiễm. Nhiều ca thiếu
máu tan huyết trầm trọng kể cả chết người đã được báo cáo ở người lớn
và trẻ em. Với những bệnh nhân phát sinh thiếu máu khi điều trị nên nghĩ
đến chẩn đoán thiếu máu liên quan đến cephalosporin, và phải ngưng ceftriaxone
cho đến khi xác định được nguyên nhân bệnh thiếu máu.
b/ tương tác với Glimepiride (Amaryl)
có thể hạ thấp mức đường trong máu: Tác dụng gây
hạ đường huyết của nhóm sulfonylurea kể cả glimepiride, có thể được tăng
cường bởi một số thuốc. Những thuốc trước đây đã biết tăng tác dụng này
là thuốc chống viêm không steroid, clarithromycin và những thuốc bám chặt
vào protein trong máu như salicylat, sulfamid, chloramphenicol, coumarin,
probenecid, thuốc ức chế monoamin oxidase (MAO) và beta-blocker. FDA đưa
ra thêm một số thuốc khác gồm disopyramide, fluoxetin và kháng sinh quinolone.
bệnh nhân dùng những thuốc này cùng với glimepiride phải được quan sát
chặt chẻ dấu hiệu hạ thấp đường huyết hay mất kiểm soát đường ở bệnh nhân
tiểu đường type 2.
c/ Repaglinide (Prandin) kết hợp
với Gemfibrosil bị chống chỉ định
Repaglinide là thuốc trị tiểu đường thuộc nhóm secretagogue được xem là
an toàn vì chỉ làm tăng insulin khi mức đường lên cao tức là sau khi ăn,
và thời gian bán thải ngắn, nhưng nhóm thuốc này chưa có ở Việt-nam. Repaglinide
được chuyển hóa bời CYP 2C8, nên nếu dùng thêm thuốc ức chế 2C8 có thể
giảm chuyển hóa và tăng nguy cơ tác dụng nghịch.
Nghiên cứu dược động học ở người tình nguyện khoẻ mạnh, dùng chung với
100 mg gemfibrosil (nhóm fibrat trị loạn lipid huyết) là chất ức chế CYP
2C8, sẽ tăng gấp 8.1 lần phơi nhiễm với liều đơn 0.25 mg repaglinide và
kéo dài thời gian bán thải từ 1.3 giờ lên 3.7 giờ. Do đó, kết hợp 2 thuốc
này bị chống chỉ định.
Theo FDA, repaglinide có vẻ là chất phản ứng của protein chuyên chở anion
thu nhận ở gan. Thuốc ức chế protein chuyên chở này như cyclosporin có
thể làm tăng nồng độ huyết tương repaglinide và đưa đ61n tác dụng nghịch
do phới nhiễm.
Trong nghiên cứu dược động học ở người tình nguyện khoẻ mạnh, dùng chung
100 mg cyclosporin tăng phơi nhiễm tối đa với liều đơn repaglinide lên
1.8 lần và tăng 2.5 lần phơi nhiễm toàn phần.
d/ Liều cao triamcinolone liên quan
đến nguy cơ tử vong ở người bị chấn thương não: trong
tháng 6, FDA chấp thuận thay đổi cảnh báo an toàn thuốc Aristopan của
công ty Sandoz là hổn dịch thuốc tiêm triamcinolone hexacetonide, về dùng
liều cao corticosteroid trong chấn thương não.
Cảnh báo này dựa trên dữ liệu từ nghiên cứu nhiều trung tâm, ngẩu nhiên,
kiểm chứng với giả dược thuốc tiêm tĩnh mạch methylprednisolone hemisuccinate,
cho thấy tăng sớm ( lúc 2 tuần) và trễ (lúc 6 tuần) tử suất ở bệnh nhân
chấn thương sọ não mà không có chỉ định khác rõ ràng cho điều trị chống
viêm.
Tiêm vào chỗ thương tổn triamcinolone hexacetonide chỉ định cho rụng tóc
từng vùng, bệnh lu-put ban đỏ hình dĩa, u sùi, phì đại tại chỗ, thâm nhiễm,viêm
thương tổn u hạt hình vòng, liken phẳng, liken đơn mạn tính, vảy nến mảng,
hoại tử mỡ đái tháo đường. Thuốc này có thể có ích trong u nang mạc hạch
(aponeurosis ganglia).
e/ Viên carvedilol nhả nhanh và
nhả có kiểm soát (Coreg CR) liên quan đến phản ứng quá mẫn hiếm: Carvedilol
là beta-blocker kèm theo chẹn thụ thể alpha thường dùng trong suy tim.
FDA nhận báo cáo hiếm về phản ứng quá mẫn ở bệnh nhân dùng thuốc này ở
cả 2 dạng nhả liền hay nhả chậm có kiểm soát. carvedilol chống chỉ định
cho bệnh nhân có lịch sử quá mẫn trầm trọng như hội chứng Stevens Johnsons,
phản ứng phản vệ, hay phù mạch.
f/ Cảnh báo tương tác với colchicin
Thuốc uống colchicin được dùng trong nhiều năm nhưng chưa được FDA chấp
thuận về thông tin kê đơn, liều khuyên dùng hay cảnh báo tương tác. Phân
tích của FDA về dữ liệu an toàn từ những ca tác dụng nghịch được báo cáo,
y văn và những nghiên cứu về dược động học và tương tác do công ty sản
xuất tài trợ đã phát hiện những ca độc hại chết người do colchicin ở một
số bệnh nhân dùng liều tiêu chuẩn cùng với một số thuốc khác như clarithromycin.
Những dữ liệu này gợi ý tương tác do hấp thụ qua dạ dày và chuyển hóa
gan của colchicin đóng vai trò chính trong phát sinh độc tính, theo lời
FDA.
Thông tin kê đơn mới của colchicin cảnh báo dùng chung với chất ức chế
P-glycoprotein hay ức chế mạnh CYP 3A4 chống chỉ định cho bệnh nhân suy
thận hay suy gan.
Nên nghĩ đến giảm lie72u colchicin hay ngưng colchicin ở bệnh nhân chức
năng gan thận bình thường cần phải điều trị chung với thuốc ức chế P-glycoprotein
hay ức chế mạnh CYP 3A4 .
Thông tin mới về colchicin nêu ra những nghiên cứu lâm sàng cho thấy liều
thấp vẫn hiệu quả ngang với liều bình thường colchicin để trị bệnh gut.
Kết quả là FDA chấp thuận liều colchicin bắt đầu là 1.2 mg tiếp theo liều
thứ hai 0.6 mg uống 1 giờ sau (tất cả 1.8 mg).
Nên giải thích cho bệnh nhân trong khi dùng thuốc nên biết về nguy hiểm
tương tác, nên cần có ý kiến bác sĩ nếu đang dùng thuốc gì. Ngay cả khi
uống nước bưởi Âu Mỹ và thấy dấu hiệu nghi ngờ ngộ độc colchicin như đau
hay tê cơ, đau hay tê ở tứ chi, chảy máu bất thường, tiêu chảy trầm trọng,
cảm thấy mệt mỏi, tăng nhiễm trùng, môi, luởi hay bàn tay đổi qua màu
xám.
Thuốc mới chống tiểu cầu Prasugrel (biệt dược Effient)
FDA chấp thuận thuốc Prasugrel cùng nhóm với clopidogrel (Plavix) trong
can thiệp động mạch vành qua da (PCI) trong hội chứng động mạch vành cấp
(ACS). Thời gian FDA duyệt xét thuốc này là 18 tháng.
Nghiên cứu lâm sàng của thuốc này là TRITON-TIMI 38, so sánh prasugrel
với clopidogrel ở 13 608 người có nguy cơ từ vừa đến cao bệnh đau thắt
ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim với đoạn ST trong điện tâm đồ chênh
cao (STEMI) hay nhồi máu cơ tim không chenh cao ST (NSTEMI) . Prasugrel
dùng liều tấn công 60 mg sau đó liều duy trì 10 mg mỗi ngày, và clopidogrel
liều tấn công 300 mg sau đó liều duy trì 75 mg mỗi ngày trong 6 đến 15
tháng.
Công ty sản xuất Daìichi và Lilly bảo thuốc phải dùng liều giống như nghiên
cứu. Ngoài ra những bệnh nhân dưới 60 Kg bác sĩ nên giảm liều duy trì
còn 5 mg mỗi ngày. Bệnh nhân đang dùng prasugrel phải dùng thêm aspirin
75 đến 325 mg uống mỗi ngày.
Theo báo cáo của nghiên cứu này, bệnh nhân dùng prasugrel cho thấy giảm
19% kết quả chấm dứt nghiên cứu gồm chết do bệnh tim mạch, nhồi máu cơ
tim, đột quỵ trong nhóm người bệnh động mạch vành cấp.
Phần thông tin kèm theo chai hộp thuốc, sẽ có khung cảnh báo bác sĩ là
thuốc đôi khi có thể gây xuất huyêt trầm trọng chết người. Thuốc không
được dùng cho bệnh nhân đang xuất huyết bệnh lý, có lịch sữ cơn đột quỵ
nhỏ ( thiếu máu cục bộ thoảng qua) hay đột quỵ, cần giải phẩu cấp kể cả
mổ nối tắt động mạch mành.
FDA chấp thuận thuốc tiêm Poly-L-Lactic
Acid (biệt dược Sculptra) để sửa lại nụ cười xếp nếp: FDA
chấp thuận thuốc tiêm này cho người hệ miển nhiễm bình thường nhưng khi
cười thì da mặt ở mũi và môi nhăn lại, đây là dấu hiệu của tuổi già. Trong
nghiên cứu lâm sàng, người ta thấy thuốc này cải thiện từ từ điểm đánh
giá nếp nhăn, lợi ích duy trì đến tháng thứ 25 sau khi hoàn tất điều trị
so với người điều trị với collagen người.
Poly-L-Lactic acid là thuốc đơn trị tiêm 4 lần cách khoảng mỗi
3 tuần. Thuốc không được dùng cho bệnh nhân quá mẫn với thành phần thuốc
hay những người sinh u sùi (keloid) hay có sẹo phì đại.
Điều trị thuốc chống retrovirus
trong 6 tháng sẽ cắt truyền bệnh qua sữa mẹ
HAART (Highly Active Anti-Retroviral Therapy) tạm dịch là trị liệu Retrovirus
hay HIV bằng thuốc hoạt tính cao. điều trị các bà mẹ nhiễm HIV bằng HAART
hay cho em bé uống thuốc ngừa hàng ngày với Nevirapine giảm đáng kể lây
truyền HIV qua sữa mẹ, theo một nghiên cứu ngẩu nhiên thực hiện ở Malawi.
Đây là công trình nghiên cứu 9 năm, tuyển mộ mộ
15 cặp mẹ con mỗi tuần năm 2004, làm thành nghiên cứu lớn nhất tại 1 địa
điểm. Nghiên cứu này gồm 2367 cặp mẹ con phân phối ngẫu nhiên hoặc bà
mẹ uống HAART (N=851), hay cho em bé bú mẹ nhưng uống nevirapine hàng
ngày (n= 848) hay đổi qua sữa bình để làm nhóm kiểm chứng. Những em bé
chỉ bú sữa mẹ trong 24 tuần, sau đó giảm lần trong 4 tuần tiếp theo.
Ở tuần lễ 28, những em bé không nhiễm HIV khi sinh
ra trở nên HIV dương tính là 6.4% ở nhánh kiểm chứng. Hai nhánh can thiệp
ít hơn đáng kể, 3% cho nhóm bà mẹ uống HAART, và 1.8% cho nhóm em bé uống
nevirapine.
Uống nevirapine có ưu điểm là không cần phải làm
xét nghiệm theo dõi, như thiếu máu, đếm bạch cầu, tác hại gan. Mặt khác
chế độ HAART có thể quá đắt tiền cho các nước nghèo.
Bệnh sốt rét kháng artemisin
ở miền tây Cam-bốt:
Artemisin là hoạt chất chống sốt rét trích từ cây thanh hao hoa vàng trồng
ở miền bắc Việt-nam và miền Nam Trung quốc. Đại học UC Berkeley đã có
thể tạo ra chất này bằng kỷ thuật sinh học và một công ty ở Ấn-độ nhận
sản xuất để cung cấp cho Phi châu.
Nghiên cứu mới cho thấy ký sinh sốt rét Plasmodium falciparum thường gặp
ở miền Tây Cam-bốt đề kháng với artemisin. Tuy nhiên, một tin mứng khác,
là một nghiên cứu cho thấy cấy truyền thoa trùng ký sinh này có thể tạo
miển nhiễm chống bệnh sốt rét. Cả hai nghiên cứu được bào cáo trên NEJM
ngày 07.30.09.
Trong nghiên cứu thứ nhất của viện đại học Mahidol tại Bangkok Thái-lan,
bác sĩ Arjen M. Dondorp và cộng sự đánh giá đáp ứng với artesunate kèm
thêm hay không mefloquine ở 40 bệnh nhân sinh sống ở miền Tây Cam-bốt
và 40 người ở Tây bắc Thái-lan. Thời gian loại thải ký sinh lâu hơn đáng
kể ở nhóm bệnh nhân Cam-bốt: 84 giờ so với 48 giờ ở nhóm bệnh nhân Thái.
Tuy nhiên,thử nghiệm trên dĩa cấy, không thấy suy giảm độ nhạy với artemisin.
Trong nghiên cứu thứ hai ở viện đại học Radboud
Ha-lan, bác sĩ robert Sauerwein và cộng sự cấy thoa trùng bằng cách cho
muổi đốt như là phương pháp tạo miển nhiễm với ký sinh sốt rét. Mười người
khoẻ mạnh cho muổi mang ký sinh sốt rét chích (nhóm chủng ngừa) và 5 người
cho muổi không mang ký sinh chích (nhóm kiểm chứng), mỗi tháng 1 lần trong
3 tháng. Cả 2 nhóm đều được uống thuốc ngừa chloroquin trong pha gây miển
nhiễm, một tháng sau ngưng chloroquin, tất cả người thử nghiệm đều cho
muổi mang mầm sốt rét chích để thử thách. Những người trong nhóm chủng
ngừa được bảo vệ hoàn toàn trong khi những người trong nhóm kiểm chứng
có ký sinh sốt rét trong máu. Không thấy tác dụng nghịch đáng kể ở cả
2 nhóm.
Người ta hy vọng làm cho thoa trùng vô hại trước
khi cho muổi chích sẽ là một phương pháp chủng ngừa sốt rét mới trong
tương lai.
Dược sĩ Lê-văn-Nhân
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết
này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |