MỘT SỐ THÔNG TIN Y DƯỢC TRONG THÁNG 7/2009
Dược sĩ Lê-văn-Nhân

Thuốc mới ức chế a-glucosidase:
Nhóm thuốc này không cho saccharide biến thành đường đơn để được hấp thụ, nên sẽ hạ thấp mức đường trong máu người bệnh tiểu đường type 2. Ngoài hai thuốc Acarbose và Miglitol đã bán tại Âu Mỹ, Nhật vừa đưa ra 1 thuốc thứ ba tên Voglibose với tên biệt dược Basen. Hàm lượng thuốc 0.2 mg, uống 1 viên ngày 3 lần khi bắt đầu ăn.

Tác dụng phụ giống như hai thuốc kia, gồm đầy bụng, căng bụng và tiêu chảy. Chưa biết thuốc này có đặc điểm gì hơn thuốc cũ không?
Tên generic   Biệt dược  
  Hoa-kỳ Pháp Nhật
Acarbose Precose Glucor  
Miglitol Glycet Diastabol  
Voglibose     Basen
Theo Lancet 05.09.09

Cảnh báo về thuốc PREVPAC điều trị nhiễm H. Pylori
Trong tháng 4/09, FDA chấp thuận sửa đổi cảnh báo an toàn của thuốc PREVPAC với thành phần lansoprazol, amoxicillin và clarithromycin.
Theo FDA, nồng độ cao amoxicillin trong nước tiểu có thể tạo ra phản ứng dương giả khi thử đường trong nước tiểu bằng thuốc thử Clinitest, dung dịch benedict hay dung dịch Fehling, do đó tốt hơn nên dùng thuốc thử dựa trên phản ứng glucose oxidase như Clinstix.
Cảnh báo thứ hai là 2 kháng sinh amoxicillin, clarithromycin liên quan đến nguy cơ bệnh tiêu chảy do Clostridium difficile từ nhẹ đến viêm ruột kết chết người và xảy ra sau hơn 2 tháng điều trị. Vì chủng c. difficile gây độc tố cao có thể đề kháng với kháng sinh, chúng có thể tăng bệnh suất và tử suất và có thể phải cắt bỏ ruột kết.
Dược sĩ và bác sĩ nên giải thích cho bệnh nhân là tiêu chảy có thể xảy ra sau khi uống hết kháng sinh, nhưng nếu thấy đi tiêu ra nước hay có máu, nên tham khảo bác sĩ.

Insulin glargin có tiềm năng tăng cao nguy cơ ung thư
Theo hướng dẫn hiện nay tại Âu Mỹ, nếu bệnh TD2 đề kháng với thuốc uống, bác sĩ thường cho dùng insulin glargin để tạo ra mức insulin căn bản (basal insulin) nên thuốc này dưới tên biệt dược Lantus được dùng khá phổ thông. Tuy nhiên có 4 nghiên cứu quan sát gợi ý glargin có thể tăng nguy cơ ung thư, đăng trên báo Diabetologia của hội nghiên cứu bệnh tiểu đường Âu châu viết tắt là EASD.
Phân tích dữ liệu của 127,000 bệnh nhân điều trị insulin, người ta thấy liên quan đáng kể bệnh ung thư và dùng insulin glargin so với liều tương đương của insulin cấu trúc như insulin người. Trong số những người tiêm insulin glargin, cứ 100 người tiêm insulin thì thêm 1 người ung thư. Nghiên cứu này thực hiện tại Đức, cũng cho thấy tăng nguy cơ ung thư phụ thuộc liều; 10 đơn vị insulin glargin tăng nguy cơ 9% trong khi 50 đơn vị tăng nguy cơ 31%.
Nghiên cứu ở Thụy điển tìm thấy, so với những bệnh nhân dùng dạng insulin khác, những người tiêm insulin glargin môt mình tăng gấp 2 nguy cơ ung thư vú.
Nghiên cứu ở Tô-cách-lan thấy không tăng đáng kể nguy cơ ung thư vú và nghiên cứu ở vương quốc Anh không tìm thấy liên quan giữa insulin glargin và bất cứ loại ung thư nào.
FDA ghi nhận các thông tin trên, và đang thảo luận với nhà sản xuất nên tiến hành thêm những nghiên cứu nào để tìm hiểu thuốc có đúng tăng nguy cơ ung thư không. Trong khi chờ đợi kết quả, bệnh nhân vẫn tiếp tục dùng thuốc, và nếu cần nên tham khảo với bác sĩ.
Theo Medwatch

Đề nghị mức hemoglobin mục tiêu mới cho bệnh nhân suy thận mãn
Trong bệnh suy thận mãn, mức hemoglobin mục tiêu ưa chuộng trong khoảng 9.0 đến 12.0 g/dL. Các nhà nghiên cứu tìm trong 231 bài báo về điều trị bệnh thiếu máu người suy thận mãn với ESA (thuốc kích thích erythropoietin), trong đó có 11 nghiên cứu đề cập đến giá trị cuộc sống liên quan đến sức khoẻ (HQOL: Health-related Quality of Life) và thấy HQOL không tăng đáng kể khi mức Hemoglobin vượt quá mức 12 g/dL.
Như vậy ngoài vấn đề an toàn, giá trị cuộc sống cũng không hơn gì khi tăng cao mức hemoglobin, nên giới hạn 9.0 đến 12.0 g.dL là mức chấp nhận được.
Theo Arch Intern Med 06.22.09

Nên giảm liều statin khi dùng chung với amiodarone
Trong tháng 4/09, FDA chấp thuận thay đổi cảnh báo an toàn trên nhản thuốc Amiodarone (biệt dược Cordarone) và khuyên điều chỉnh liều lượng khi dùng với một số thuốc statin điều trị rối loạn lipid huyết.
Statin liên quan đến chứng đau cơ, cứng cơ, tăng mức creatine kinase gấp 10 lần mức giới hạn bình thường. Chứng đau cơ có thể do tiêu cơ (rhabdomyolysis) có thể đưa đến suy thận cấp do myoglobin niệu và có thể gây chết người.
FDA cảnh báo amiodarone là chất ức chế CYP 3A4 trong khi thuốc ức chế HMO-CoA Reductase (statin) là chất phản ứng (substrate) của CYP 3A4, có thể làm tăng mức statin trong huyết tương và gây độc tính. Do đó nên giảm liều statin khi dùng chung với amiodarone.

Thông báo mới của FDA về Propoxyphene
Những hợp chất của propoxyphene giảm đau đã bị cấm tại vương quốc Anh từ năm 2005. Trong tháng 3/09, FDA cho biết sẽ duyệt lại vấn đề sau khi có đơn khiếu nại của nhóm tiêu thụ Group Citizen tháng 2/06 về độc tính của thuốc này.
Từ năm 1969 đến năm 2005, dữ liệu của FDA đã nhận tất cả 91 ca tử vong ở người dùng thuốc giảm đau chứa propoxyphene, hoặc do dùng quá liều hoặc với mục đích tự vẫn, mặc dầu khó chứng minh trực tiếp vì người bệnh thường dùng nhiều thuốc và có nhiều bệnh.
FDA sẽ yêu cầu các nhà sản xuất ghi thêm cảnh báo trong ô cảnh báo màu đen là dùng quá liều có thể nguy hiểm tính mạng. Tuy nhiên, đại diện của FDA cho biết những thuốc giảm đau khác như codein và hydrocodone, có thể gây táo bón nhất là bệnh nhân cao tuổi. Thuốc chống viêm không steroid cũng có thể gây loét ruột hay chảy máu dạ dày ruột. Thuốc chứa propoxyphene ít gây táo bón, êm dịu hay lẫn lộn hơn những thuốc nêu trên nên vẫn là thuốc giảm đau tốt nếu dùng đúng theo chỉ dẫn. Trước đây đã có nghiên cứu cho biết kết hợp acetinophen với propoxyphen không hiệu quả hơn acetaminophen dùng 1 mình.
Biệt dược chứa dextropropoxyphen có ở Việt-nam là Di-antalvic.
Theo Medwatch 07.07.09

Ngưng sản xuất thuốc trị mụn Accutane
Công ty dược phẩm Hoffmann-La Roche công bố quyết định ngưng sản xuất thuốc trị mụn Accutane, trong khi dạng generic vẫn được một số công ty khác sản xuất. Lý do Roche ngưng sản xuất là không còn lợi nhuận vì bây giờ số bán chỉ chiếm dưới 5% thị trường isotretinoin. Một lý do khác là kiện tụng. Isotreinoin (biệt dược Accutane) điều trị hữu hiệu bệnh mụn trầm trọng. Nhưng thuốc này cũng có tác dụng nghịch hết sức nguy hiểm như trầm cảm, loạn tâm thần và tự vẫn, và nếu uống trong khi mang thai có thể làm hư thai hay gây quái thai.

Kinh nguyệt và nguy cơ ung thư buồng trứng:
Một nghiên cứu của CDC cho biết hoạt động hormon trong suốt cuộc đời ảnh hưởng nguy cơ ung thư buồng trứng của phụ nữ. Tiến sĩ Cheryl L. Robbins, chuyên viên dịch tể học, phân khoa sức khoẻ sinh sản của cơ quan kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa-kỳ, tuyển mộ 410 phụ nữ, tuổi từ 20 đến 54, được chẩn đoán ung thư buồng trứng, tham dự nghiên cứu CASH (Cancer and Steroid Hormone) tạm dịch là nghiên cứu ung thư và nội tiết tố Steroid tham dự năm 1980-1982. Sau khi theo dõi trung bình 9.2 năm (một nửa lâu hơn một nửa ít hơn), 212 phụ nữ qua đời trong đó có 169 ca chết vì ung thư buồng trứng.
Trong số phụ nữ tham gia nghiên cứu, số người sống sót sau 15 năm là 48%. Nhóm nghiên cứu nhìn vào những yếu tố của hệ sinh sản của những người này gồm số lần mang thai, dùng thuốc uống ngừa thai, cho con bú sữa mẹ, tuổi có kinh lần đầu, người đó có bị cắt bỏ tử cung không hay có cột buồng trứng không.
Yếu tố duy nhất về sinh sản có ý nghĩa thống kê để tiên đoán chết vì ung thư buồng trứng là tuổi bắt đầu có kinh và số chu kỳ kinh nguyệt suốt cuộc đời. Những người có kinh lần đầu năm 12 tuổi dễ chết vì ung thư buồng trứng hơn 51% so với người có kinh lần đầu từ năm 14 tuổi trở lên.
Trong những năm gần đây, tuổi có kinh lần đầu có khuynh hướng đi xuống. Thí dụ các nhà nghiên cứu đại học Wright mới đây thấy những thiếu nữ sinh trong thập niên 1980 có tuổi trung bình bắt đầu có kinh là 12.3. Nghiên cứu này công bố trên báo American Journal of Huam Biology.
Phụ nữ với số chu kỳ kinh nguyệt cao nhất suốt cuộc đời dễ chết vì ung thư buồng trứng hơn 67% so với nhóm có số chu kỳ kinh nguyệt thấp nhất, theo Cancer Epidemiology, Biomarkers & Prevention.

Thuốc có hy vọng chữa được bệnh giảm khứu giác
Một số người không thưởng thức được mùi thơm của cà-phê, của hoa lá, của thức ăn, nên giá trị cuộc sống có thể suy giảm. Bệnh đó tiếng Anh gọi là “hyposmia”, do gốc Hy-lạp “osme” là ngửi. Một nghiên cứu đăng trên báo AJMS (American Journal of the Medical Sciences) số tháng 6 năm 2009 giải thích vấn đề này có thể do vi-rut, thương tích đầu, dị ứng trầm trọng hay bị nghẽn trong mũi hay có polip mũi. Bác sĩ Robert Henkin, giám đốc trung tâm bệnh cảm giác và dinh dưỡng ở mức phân tử tại Washington DC và cộng sự, trước đây đã khám phá người ngửi kém giảm mức nucleotid vòng trong nước miếng và màng nhầy mũi, và điều trị với theophyllin làm tăng yếu tố tăng trưởng này và tái tạo một phần khứu giác. Những nucleotid vòng này là yếu tố tăng trưởng của khứu giác và những mô thần kinh khác. Theophyllin, ức chế sự phá vỡ những yếu tố tăng trưởng này nên sẽ tăng khưu giác.
Nhóm nghiên cứu theo dõi 312 bệnh nhân giảm khứu giác trong vòng 7 năm. Những người tham dự đều giảm mức yếu tố tăng trưởng cAMP và cGMP khi đo trong màng nhầy mũi. Hơn một nửa người tham dự bảo khứu giác cải thiện sau khi điều trị bằng thephyllin, trong khi hơn 20% bảo khứu giác trở lại bình thường. Dùng liều cao và điều trị lâu dài cho kết quả tốt hơn.
Những người có bệnh nhẹ đến vừa phải có vẻ đáp ứng với điều trị nhưng cũng có thể đáp ứng với những cách khác. Phần lớn những người mất hoàn toàn khứu giác hay quá nặng không đáp ứng với theophyllin.
Tác dụng phụ của Theophyllin không đáng kể, gồm bồn chồn, nóng nảy và khó dỗ giấc ngủ. Tuy nhiên, chúng ta chưa biết rõ dùng liều bao nhiêu cho kết quả tối ưu, vì trong khi điều trị hen suyển, thuốc này có cửa sổ điều trị hẹp, dùng quá liều có thể nguy hiểm.
Tác giả nghiên cứu đề nghị kiểm chứng lại điều tìm thấy trong 1 nghiên cứu lâm sàng.

Flavonoid từ nhóm cam quit chanh bưởi ngăn ngừa béo mập
Một Flavonoid từ quả của nhóm “citrus” (cam, quít, chanh, bưởi,vv) cho thấy có hứa hẹn lớn ngừa lên cân và những dấu hiệu khác của hội chứng chuyển hóa có thể đưa đến bệnh tiểu đường type 2 và tăng nguy cơ bệnh tim mạch. Nghiên cứu này tại đại học Western Ontario nhìn vào flavonoid naringenin là phân tử có hoạt chất sinh học.
Trong nghiên cứu này, một nhóm chuột nhắt được cho ăn thực đơn giàu chất béo giống thực đơn của người Tây phương để gây ra những triệu chứng của hội chứng chuyển hóa. Một nhóm thứ hai được cho ăn thực đơn giàu chất béo như nhóm trước và điều trị bằng naringenin. Naringenin sửa chữa sự tăng cao Triglycerid và cholesterol, ngăn ngừa phát sinh đề kháng insulin và bình thường hóa hoàn toàn chuyển hóa glucose. Các nhà nghiên cứu tìm thấy chất này đã sửa lại chương trình gan đốt chất béo thừa của gene thay vì tồn trữ chất béo.
Hơn nữa, naringenin có thể ngăn ngừa hoàn toàn sự béo mập quá đáng ở nhóm chuột này, theo lời bác sĩ Huff, giám đốc nhóm nghiên cứu sinh học mạch máu và là giáo sư y khoa và sinh hóa tại đại học y nha Schulich. Điểm đặc biệt của nghiên cứu này là tác dụng chống béo mập không phụ thuộc nhiệt lượng mang vào, có nghĩa là chuột ăn vào cùng thức ăn và cùng lượng chất béo. Không có sự thay đổi về tính ngon miệng hay giảm lượng thức ăn, thường là điều căn bản để giảm cân và hậu quả chuyển hóa.
Trong khi bưởi từ lâu đuợc gắn liền vào chế độ tiết thực giảm cân, nồng độ flavonoid trong nhóm cây citrus được nghiên cứu cao hơn mức chúng ta có thể có được từ thành phần thức ăn thông thường. Nhóm nghiên cứu nhìn vào dược tính của naringenin. Bước tiếp theo là tìm xem naringenin ngừa bệnh tim ở thú vật như thế nào và sẽ thực hiện nghiên cứu lâm sàng để xác định mức hiệu quả và an toàn.
Nghiên cứu này cho thấy naringenin qua tính chất giống như insulin, sửa chữa rối loạn giống như insulin, và tượng trưng cho lối tiếp cận hứa hẹn để cho hội chứng chuyển hóa.
Theo Diabetes online.

Thuốc chống men chuyển (ACE-I) và ARB có ngừa được bệnh thận (Nephropathy) và bệnh võng mạc (retinopathy) ở bệnh tiểu đường type I không?
Điều trị không ngừa được bệnh thận nhưng ngừa được phát sinh bệnh võng mạc.
Nhiều bác sĩ nghĩ rằng ức chế renin-angiotensin sẽ ngừa được bệnh thận do bệnh tiểu đường gây ra. Tương tự, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thiết là sự ức chế này có thể ngừa được bệnh võng mạc do bệnh tiểu đường. Trong một nghiên cứu quốc tế ngẩu nhiên, các nhà nghiên cứu tuyển mộ 285 bệnh nhân huyết áp bình thường với bệnh tiểu đường type 1 (mức HBA1c trung bình 8.5%); thời gian trung bình mắc bệnh tiểu đường khoảng 11 năm) và mức albumin trong nước tiểu bình thường. Bệnh nhân uống mỗi ngày enalapril (thuốc chống men chuyển ACE) 20 mg, losartan (ARB) 100 mg hay giả dược và theo dõi trong vòng 5 năm. Điểm chấm dứt nghiên cứu chính là bệnh thận (thay đổi phân số thể tích màng nâng cuộn mao mạch, đo bằng sinh thiết thận) và bệnh võng mạc (tiến triển 2 bước trong thước đo bệnh thận, đo bằng hình chụp võng mạc).
Đến 5 năm, các nhà nghiên cứu thấy không có khác biệt đáng kể giữa nhóm có điểm chấm dứt nghiên cứu chính bệnh thận hay thay đổi tốt độ lọc cầu thận. Tuy nhiên, số phát sinh microalbumin niệu cao hơn đáng kể ở nhóm loasartan (17%) so với nhóm dùng enalapril (4%) và nhóm dùng giả dược (6%). Những người dùng giả dược dễ đạt đế mức chấm dứt nghiên cứu bệnh võng mạc (38%) so với nhóm dùng enalapril (25%) hay losartan (21%).
Theo NEJM 07.02.09

Theo dõi mật độ khoáng chất xương (BMD) sau khi bắt đầu điều trị biphosphonate: Một số hướng dẫn báo cáo theo dõi thường xuyên tác dụng chống tiêu xương của nhóm biphosphonate lên mật độ khoáng chất xương trong vòng vài năm điều trị. Tuy nhiên, ít có chứng cứ hổ trợ cho lời khuyên này. Để đánh giá lối theo dõi thường xuyên này, các nhà nghiên cứu quan sát dữ liệu từ các nhà sản xuất trong nghiên cứu can thiệp gãy xương (Fracture Intervention Trial) trong đó tác dụng của alendronate được so sánh với giả dược ở 6500 phụ nữ sau tuổi mãn kinh và BMD thấp.
Đo BMD thực hiện ở mức căn bản và năm 1, 2 và 3. Sau 3 năm, mật độ xương đùi trung bình tăng 30 mg/cm2 với điều trị bằng alendronate và giảm 12 mg/cm2 với giả dược. Mật độ xương đùi trung bình tăng > 19 mg/cm2 ở 97.5% người dùng alendronate. Điều đáng chú ý là mặc dầu mật độ xương tăng giống nhay ở người dùng alendronate, biến động đáng kể về mật độ này khi đo nhiều lần khác nhau trong cùng 1 cá nhân.
Theo BMJ 06.23.09

Famotidin có thề ngừa được loét dạ dày tá tàng ở bệnh nhân dùng liều thấp aspirin: Liều thấp aspirin thường được dùng làm thuốc chống huyết khối trong bệnh tim mạch và bệnh mạch máu não. Nhưng thuốc này cũng có thể gây ra biến chứng như xuất huyết dạ dày ruột hay nặng hơn.
Mặc dầu thuốc ức chế bơm proton được khuyên dùng để phòng ngừa và điều trị loét ruột do aspirin và thuốc chống viêm không steroid, vẫn có quan ngại về tốn kém, nguy cơ tương tác với clopidogrel thường được cho dùng kèm với aspirin.
Một nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện Crosshouse với 404 bệnh nhân. Những người này không có chứng cứ loét ruột hay sướt ống thực quản khi làm nội soi ở mức căn bản trước khi dùng thuốc, và sau đó dùng famotidin 20 mg ngày 2 lần (n=204, tuổi trung bình 63, 67.6% đàn ông) hay dùng giả dược (n=200, tuổi trung bình 63 và 69.5% đàn ông).
Điểm chấm dứt nghiên cứu chính là phát sinh loét ruột mới (kích thước ≥ 3 mm) ở dạ dày hay tá tràng hay viêm ống thực quản có vết sướt khi làm nội soi 12 tuần sau khi dùng thuốc. Đánh giá lâm sàng lúc ban đầu, 6 tuần và 12 tuần.
Cuối nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân loét ruột với bất cứ kích thước nào, vết sướt ống thực quản, xảy ra thấp đáng kể ở nhóm dùng famotidine so với nhóm dùng giả dược (5.45 so với 32.5%). Loét dạ dày chỉ xảy ra ở 7 người (3.4%) ở nhóm dùng famotidin so với 30 người (15%) ở nhóm dùng giả dược. Loét tá tràng chỉ xảy ra 1 người ở nhóm dùng famotidin so với 17 người ở nhóm dùng giả dược.
Trong một nghiên cứu phụ bệnh nhân loét dạ dày ruột, H.pylori tìm thấy ở 42.1% bệnh nhân dùng giả dược và không có ai trong nhóm dùng famotidin.
Khi thử tương tác giữa famotidin và clpidogrel, các nhà nghiên cứu thấy kết hợp 2 thuốc này không tăng thêm tác dụng nghịch so với nhóm dùng một mình famotidin hay clopidogrel.
Họ kết luận famotidin có thể là chọn lựa thay thế cho nhóm bệnh nhân chỉ dùng aspirin ở liều thấp.
GHI CHÚ: một bác sĩ trưởng khoa tiêu hóa vẫn khuyên nên dùng thuốc chống bơm proton nếu bệnh nhân còn dùng thuốc chống tiểu cầu hay chống đông máu khác. Ngoài ra, muốn thuốc chống bơm proton hiệu nghiệm phải uống bụng đói thường là 30 phút trước khi ăn sáng, điều này ít khi được thực hiện, nên nếu chỉ dùng với aspirin thì dùng famotidin rẻ hơn và ít bị tác dụng phụ hơn.
Theo Lancet 07.06.09

Dược sĩ Lê-văn-Nhân

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Dược Phẩm