VÀI TIN VỀ BỆNH NHIỄM KHUẨN
Dược sĩ Lê-văn-Nhân


I. Hướng dẫn điều trị bệnh nhiễm trùng đường tiểu ở phụ nữ:
Bệnh nhiễm trùng đường tiểu rất phổ thông ở phụ nữ từ tuổi dậy thì cho đến sau tuổi mãn kinh, và tỷ số mắc bệnh dự đoán sẽ tăng cao khi dân số tăng. Vì 50% đến 60% phụ nữ khai nhiễm trùng đường tiểu ít nhất 1 lần trong đời, nên bệnh này thường được điều trị bởi bác sĩ toàn khoa, bác sĩ phụ khoa hay bác sĩ chuyên khoa tiết niệu.
Mục tiêu của bài này là định nghĩa viêm bàng quang, thảo luận đánh giá và định bệnh nhiễm trùng đường tiểu và nhấn mạnh nhiều chọn lựa điều trị cho bệnh nhân nhiễm trùng đường tiểu.
Chẩn đoán viêm bàng quang cấp thường dựa trên lâm sàng, với những triệu chứng cổ điển như khó tiểu tiện, đi tiểu nhiều lần, không nín tiểu được, đau trên khớp mu. Mặc dầu cấp nước tiểu là khuôn vàng thước ngọc để chẩn đoán có vi trùng trong nước tiểu và viêm bàng quang, nhưng ít khi đòi hỏi trong những bệnh không có biến chứng. Phân tích nước tiểu dưới kính hiển vi gồm đếm tế bào có thể khám phá mủ niệu giúp phân biệt chẩn đoán
Cấy nước tiểu cần được thực hiện cho bệnh nhân nhiễm trùng có biến chứng hay tái phát, được định nghĩa 3 lần nhiễm trùng khi cấy nước tiểu trong 1 năm, hay ít nhất 2 lần nhiễm trùng đường tiểu trong 6 tháng. Nhiễm trùng xảy ra lại với cùng chủng vi trùng có thể cần chụp hình đường dẫn tiểu phía trên và phía dưới để chẩn đoán và tìm những điều bất thường như túi thừa niệu đạo, sạn thận nhiễm trùng, thoát vị bàng quang, hoại tử dạng nhú (papillary necrosis) và viêm thận bể thận teo lại.
Nhiễm trùng không biến chứng thường đáp ứng tốt với nhiều chọn lựa kháng sinh sẵn có. Những can thiệp khác có thể gồm nghỉ ngơi, giữ cơ thể đủ nước, dùng thuốc giảm đau niệu đạo với các thuốc như phenazopyridin và urised. Một số dữ liệu giới hạn gợi ý nước ép quả dâu cranberry hay dịch chiết dâu này có thể làm cho vi trùng không bám được và bảo vệ tránh sinh viêm bàng quang.
Bệnh nhân với nhiễm trùng đường tiểu có biến chứng thường phải điều trị kháng sinh mạnh hơn, gồm điều trị phòng ngừa lâu dài, điều trị sau khi giao hợp, hay tự bắt đầu điều trị. Để phòng ngừa tiến đến viêm thận bể thận, với biến chứng và bệnh suất, nhiễm trùng liên quan đến đặt ống thông niệu hay có thai phải được quản lý cẩn thận.
Một số kháng sinh thường được kê đơn thường gây hại cho môi trường vi sinh âm đạo, với viêm âm đạo do nấm xảy ra 25% bệnh nhân dùng ampicillin và 80% người điều trị với tetracyclin.
Nitrofurantoin công hiệu cao chống Escherichia coli, cầu trùng Gram dương, và nhiều khuẩn Gram âm, thuốc này được nghiên cứu kỹ và dung nạp tốt, không có tác động lên hệ vi khuẩn âm đạo. Tuy nhiên, thuốc không có tác dụng với khuẩn Proteus, vài chủng Enterobacter, Klebsiella và phải dùng trong 7 ngày.
Trimethoprim/sulfamethoxazol (Bactrim) mặc dầu có thể dùng ngày 2 lần và chỉ có tác động trung bình lên hệ vi khuẩn ruột và âm đạo, khoảng 39% E. coli mắc ở cộng đồng đề kháng với thuốc. Khi dùng 3 ngày, trimethoprim/sulfamethoxazol hiệu nghiệm hơn nitrofurantoin dùng 3 ngày.
Ciprofloxacin và những chất dẫn xuất quinolone khác đắt tiền và hết sức công hiệu với khuẩn Gram âm và nới rộng tác dụng lên Pseudomonas aeruginosa và vi trùng Gram dương. đề kháng với quinolon đang gia tăng. Thuốc này không được dùng cho phụ nữ có thai hay cho con bú hay người dưới 18 tuổi.

Chẩn đoán và quản lý bệnh viêm bàng quang cấp không biến chứng tương đối dễ kiểm soát, trong khi nhiễm trùng tái phát hay có biến chứng đòi hỏi phải đánh giá và điều trị chuyên khoa hơn. Khi điều trị nhiễm trùng đường tiểu lần đầu hay tái nhiễm trùng không thường xuyên, dùng chế độ kháng sinh 3 ngày cho thấy tốt hơn chế độ 1 liều đơn và thường hữu hiệu ngang với chế độ 7 ngày với ít tác dụng phụ hơn và bệnh nhân dễ tuân thủ hơn. Chế độ liều đơn có mức thất bại cao hơn và ít có hy vọng hữu hiệu nếu có yếu tố biến chứng chưa chẩn đoán được, như bệnh tiểu đường, mang thai hay dị dạng cơ thể học.
Với nhiễm trùng đường tiểu xảy ra lại, tiếp tục điều trị phòng ngừa trong 6 tháng, mỗi tối uống 100 mg nitrofurantoin, cephalexin 250 mg hay trimethoprim/sulfamethoxazol 1 viên. Phòng ngừa sau giao hợp với kháng sinh có thể hữu ích cho phụ nữ thường bị nhiễm trùng đường tiểu sau khi giao hợp.
Mặc dầu vi trùng hiện diện trong nước tiểu có triệu chứng thường không đòi hỏi điều trị kháng sinh, bệnh nhân mang thai và nhiễm với chủng Proteus, hay người bệnh tiểu đường nặng, phải được điều trị chứng có vi trùng trong nước tiểu không có triệu chứng.
Nhiễm trùng đường tiểu do dùng ống thông cần điều trị 10 đến 14 ngày. Trong khi mang thai, nhiễm trùng đường tiểu hay khi có vi trùng trong nước tiểu phải được điều trị 7 ngày với Penicillin/cephalosporin hay nitrofurantoin; quinolon và tetracyclin chống chỉ định.
Những vi trùng trên cũng thấy ở bệnh nhân viêm bàng quang là thủ phạm bệnh viêm thận bể thận. Quyết định khởi sự điều trị tùy thuộc điều trị nội trú hay ngoại trú. Bệnh nhân thích hợp cho nhập viện gồm bệnh nhân bệnh trầm trọng hay bệnh nhân quá yếu ớt, bệnh nhân chẩn đoán không rõ, phụ nữ có thai, người không dung nạp thuốc uống, hay người có vấn đề về tuân thủ khi dùng chế độ kháng sinh.

Theo Urology Nursing 2008; 28: 333-341

II. Tiên đoán MRSA ở nhiễm trùng nặng
Với bệnh nhân nhiễm trùng nặng Staphylus aureus, nếu trước đó có dùng kháng sinh quinolon hay beta-lactam, thì đây là yếu tố tiên đoán cao nhiễm trùng Staph.aureus đề kháng methicillin, viết tắt là MRSA.
Trong nghiên cứu này, dùng beta-lactam hay fluoroquinolone trong vòng 3 tháng trước khi nhập viện tăng nguy cơ nhiễm MRSA 6.30 và 4.45 lần theo thứ tự đối với bệnh nhân da trắng tại Mỹ. Nghiên cứu gồm 193 bệnh nhân nằm bệnh viện tại quận Cook từ 2004 đến 2006 nhiễm nặng Staph.aureus, như viêm phổi có biến chứng, viêm mạc hoại tử, nhiễm khuẩn. 76 bệnh nhân (40%) nhiễm MRSA và 117 (60%) nhiễm Staph. aureus nhạy cảm với methicillin. Mức bệnh trầm trọng giống nhau giữa 2 nhóm.
Ngoài yếu tố tiên đoán nêu trên, huyết áp động mạch trung bình và mức na+ huyết thanh giảm cũng liên quan đến nhiễm MRSA. Đặc biệt, huyết áp tăng lên mỗi 5 mm Hg tăng đề kháng methicillin lên 7%, trong khi giảm na+ 5 mEq/L tăng nguy cơ 32%.
Tác giả nghiên cứu khuyên nên hỏi kỹ bệnh nhân lịch sử dùng kháng sinh để tiên đoán có thể bị MRSA không.

Theo báo cáo của ICAAC và hội bệnh nhiễm Hoa-kỳ trong tháng 10/08

Ds Lê Văn Nhân

Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Dược Phẩm