 |
Một số nhận
xét về CÁCH SỬ DỤNG THUỐC TẠI VIỆT-NAM
Dược sĩ Lê-văn-Nhân &
Bác sĩ Nguyễn văn Đích
Lần về thăm Việt-nam trong hai tháng 3 và 4 vừa qua, chúng
tôi được đọc một số báo cáo của sinh viên Dược đi thực tập tại các bệnh
viện. Vì không được huấn luyện cẩn thận như ở Mỹ và cũng không có preceptor,
nên những sinh viên này chỉ có thể ghi nhận chứ không thể đánh giá hay
đề nghị thay đổi như mẫu SOAP ở Mỹ.
I. Thuốc điều trị
cao huyết áp:
1/ Trong khi các bác sĩ ở Saigon đã bỏ thói quen cho bệnh
nhân ngậm nifedipine (Adalat) dưới lưỡi để hạ nhanh huyết áp, thì đa số
lại xoay qua cho bệnh nhân uống viên captopril 25 mg vì thời gian bắt
đầu tác dụng (onset of action) của viên này nhanh hơn các thuốc khác.
Tại các bệnh viện tỉnh, các bác sĩ vẫn nghĩ dùng nifedipine ngậm dưới
lưởi tác dụng nhanh hơn, mặc dầu đã có nghiên cứu chứng minh không có
khác biệt giữa cách dùng ngậm dưới lưởi và uống trọn viên thuốc. Dùng
cách ngậm dười lưởi phải dùng biệt dược ADALAT, nên giá thuốc sẽ cao hơn
và bệnh nhân sẽ phải tốn nhiều tiền hơn.
2/ Ngay cả
trong trường hợp cao huyết áp khẩn cấp (urgent hypertension) với huyết
áp trên 200/110 mm Hg, thì hướng dẫn của Mỹ cũng chỉ yêu cầu hạ huyết
áp trong vòng 24 giờ xuống bình thường, và trong trường hợp cao huyết
áp cấp cứu ( emergency hypertension) có thể nguy hại cho những cơ quan
khác của bệnh nhân, hướng dẫn cũng chỉ yêu cầu hạ ¼ huyết áp trong giờ
đầu. Do đó, chúng tôi không thấy cần thiết hạ ngay huyết áp trong 1 giờ
ở những bệnh nhân có mức huyết áp tâm thu từ 170-180 mm Hg trở xuống.
3/ Các bác
sĩ Việt-nam thích dùng CCB như nifedipine, amlodipine, felodipine để trị
cao huyết áp. Có lẽ rất ít người nhớ đến hướng dẫn chỉ định bắt buộc cho
tiểu đường hay suy thận phải dùng ACE Inhibitor hay ARB. Có lẽ họ không
được huấn luyện tại trường là mục đích lâu dài (outcomes) của những thuốc
này, ngoài tác dụng trước mắt là hạ huyết áp, còn bảo vệ được thận, làm
chậm tiến triển hư thận tiến đến protein niệu ( proteinuria). Do đó với
những bệnh nhân suy thận nhưng huyết áp không cao, họ dùng 1 viên captopril
25 mg kèm theo 1 viên CCB như amlodipine.
II. Sử dụng kháng
sinh:
Đây là điều đáng chú ý nhất ở Việt-nam
và gây tốn kém nhất cho ngân sách điều trị. Phác đồ điều trị ̣( ̣algorithm)
về viêm phổi tại một bệnh viện, bảo trường hợp những bệnh nhân viêm phổi
mắc ở cộng đồng từ tuyến dưới đưa đến, cần sử dụng hai kháng sinh nhắm
đến Pseudomonas aeruginosa. Điều này đúng, nếu tuyến dưới tuân thủ hướng
dẫn chỉ dùng kháng sinh nhắm đến cầu khuẩn Gram dương. Nhưng mọi người
cứ nghĩ dùng kháng sinh càng mới và càng đắt tiền là tốt, đua nhau sử
dụng cephalosporin đời thứ ba, nên kết quả là phải điều trị dài ngày hơn
và tốn kém hơn.
Sau đây là vài thí dụ:
a/ một bà
cụ chỉ nặng 30 Kg nhập viện được cho tiêm Amikacin liều bình thường ngày
1 lần mà không tính độ thanh thải, một tuần sau mức digoxin của bà cụ
đã tăng lên trên 2 ng/ml và kết quả xét nghiệm cho thấy BUN và creatinin
tăng cao gấp 3 đến 4 lần.
b/ một bệnh
nhân suy thận mãn nghi ngờ bị viêm phổi, bác sĩ lần lượt cho cefotaxim,
đổi qua ceftriaxone và cuối cùng là levofloxacin IV và ceftazidime.
Ngoài bệnh viện Chợ rẩy và bệnh viện nhân dân Gia-định
(bệnh viện Nguyễn-văn-Học cũ), các bệnh viện khác không đo được nồng nộ
aminoglycosides trong máu, nên dễ độc hại cho thận nhất là người bị suy
thận.
Chúng tôi nghĩ hướng dẫn cho các bác sĩ bệnh viện biết
cách sử dụng kháng sinh đúng là điều cấp thiết ở Việt-nam, cần có một
chương trình huấn luyện hữu hiệu hơn.
III. Thuốc điều trị
bệnh tiểu đường type 2
a/ Metformin :
Các bác sĩ không được nhắc nhở những trường hợp nào không nên cho bệnh
nhân dùng metformin. Chúng tôi đã thấy trường hợp bệnh nhân có mức creatinin
> 1.7 mg/dL vẫn được tiếp tục cho metformin ( chống chỉ định cho nam
bệnh nhân có mức SCr > 1.5 mg/dL).
b/ Sulfonylurea :
Hiện nay Việt-nam chỉ có sulfonylurea tác dụng dài tương đường với glyburide
chứ không có thuốc nào có thời gian bán thải tương đương với glipizide.
Điều này sẽ nguy hiểm cho những bệnh nhân cao tuổi và suy thận, dễ sinh
hypoglycemia .
c/ Nhóm Secretagogues :
Không có thuốc thuộc nhóm –glinides như repaglinide tại Việt-nam nên khó
kiểm soát những người mức đường tăng cao sau khi ăn và cách tiêm Insulin
R trước khi ăn cũng ít được áp dụng vì bất tiện. Thông thường, bác sĩ
chỉ cho tiêm Insulin 70/30 ngày 1 hay 2 lần. Việc đo mức đường 2 giờ sau
khi ăn cũng ít khi được áp dụng.
IV. Thuốc điều trị
biến chứng bệnh suy thận mãn.
a/ Thuốc gắn kết
phosphat:
Việt-nam không có thuốc gắn kết phosphate như Sevelamer và ngay cả Ca
acetate. Có lẽ các bác sĩ ngay cả những người trong khoa thận, cũng không
biết Ca acetate gắn kết với phosphorus mạnh nhất trong các muối calcium.
Các xét nghiệm đo P cho bệnh nhân suy thận mãn cũng ít khi được để ý.
Từ đó việc theo dõi tránh loạn biến dưỡng khoáng chất và xương và vôi
hóa mạch máu ít được chú ý để phòng ngừa và điều trị.
b/ Điều trị thiếu máu bằng erythropoeitin
:
Bảo hiểm Việt-nam chịu thanh toán tiền thuốc erythropoetin
(biệt dược Eprex và Eritina) cho bệnh nhân thiếu máu do suy thận mãn nằm
bệnh viện và thẩm tách. Xét nghiệm của khoa thẩm tách thường cho đo serum
iron và transferrin mà không đo TSAT (Transferrin saturation). Chúng tôi
đã đọc một số ca bệnh mức ferritin < 200 ng/ ml mà vẫn dùng erythropoetin.
Đây cũng là một điều cần phải nhắc nhở tại các bệnh viện có làm dialysis
để tăng hiệu lực thuốc. Các bác sĩ cũng không biết là nếu bệnh nhân bị
nhiễm trùng thì hiệu lực của erythropoetin bị suy giảm, vẫn tiếp tục dùng
thuốc này trong khi điều trị nhiễm trùng.
c/ Điều chỉnh liều lượng thuốc cho bệnh
nhân suy thận:
Khoa dược tại các bệnh viện và các bác sĩ điều trị
bệnh nhân suy thận mãn không được hướng dẫn trường hợp nào nên giảm liều
thuốc và giảm như thế nào. Nên đưa bài những thuốc làm hại thận và cách
tính liều lượng một số thuốc cho bệnh nhân suy thận vào chương trình huấn
luyện dược lâm sàng ở cả hai trường y và dược tại Việt-nam.
V. Thuốc trị tim mạch:
Thuốc mới trị tim mạch như Nebivolol, carvedilol,
metoprolol, clopidogrel đều có ở Việt-nam nhưng có thể dưới tên biệt dược
của Ấn-độ, giá không rẻ hơn biệt dược gốc của Âu châu bao nhiêu.
Việt-nam cũng dùng biệt dược Vastarel MR (trimetazidine)
của Pháp cùng nhóm với thuốc Ranozaline ( biệt dược Ranexa) của Mỹ, tác
dụng lên ty lạp thể, giảm nhu cầu oxy của cơ tim, dùng cho những trường
hợp đau thắt ngực (angina pectoris) hay thiếu máu cục bộ cơ tim.
Trong điều trị suy tim, các bác sĩ Việt-nam ít chú trọng
đến 2 nhóm thuốc có lợi cho tim mạch là ACEI hay ARB và Beta-blocker,
mà vẫn thích dùng CCB như điều trị cao huyết áp.
Trong điều trị rung nhĩ (Atrial Fibrillation) các bác sĩ
Việt-nam thường dùng digoxin nhưng không dùng thuốc kháng đông Warfarin.
Tại Saigon chỉ có 2 bệnh viện có máy đo được nồng độ Digoxin trong huyết
thanh.
VI. Linh tinh:
a/ Thuốc ức chế bơm proton (PPI) :
chúng tôi đã đọc 1 ca bệnh bác sĩ cho 1 bệnh nhân bị nghi ngờ PUD uống
omeprazole 20 mg ngày 2 lần, và vì không thấy thuyên giảm, cho uống thêm
buổi tối Esomeprazole 40 mg (Nexium). Hiện nay chưa có nghiên cứu nào
chứng minh nếu dùng liều tương đượng (40 mg esomeprazol = 80 mg omeprazol)
esomeprazol tốt hơn hay khuyến khích kết hợp này.
b/ Thuốc giảm đau chứa PROPOXYPHENE: Mặc
dầu vương quốc Anh đã cấm dùng thuốc chứa propoxyphene và FDA cũng đang
cứu xét ngưng lưu hành thuốc chứa propoxyphene, vì chất chuyển hóa của
thuốc này gây hại. Hơn nữa, đã có nghiên cứu chứng minh kết hợp propoxyphene
+ acetaminophen không hơn gì acetaminophen dùng một mình, nhưng tại Việt-nam,
các bác sĩ bệnh viện vẫn thích kê đơn Di-Antalvic ( dextropropoxyphene
+ Paracetamol) làm thuốc giảm đau, có lẽ do thuốc ngoại nhập dễ thuyết
phục bệnh nhân là có hiệu quả hơn.
c/ Thuốc ngủ gốc benzodiazepine: Việt-nam
không có benzodiazepine tác dụng ngắn, thuốc chuyển hóa qua pha 2 chỉ
có Lexomil với thời gian bán thải khoản 24 giờ. Do đó nhiều bệnh nhân
cao tuổi ở bệnh viện vẫn được cho dùng Diazepam làm thuốc an thần cũng
như thuốc ngủ. Zolpidem (biệt dược Stilnox) có ở Việt-nam nhưng có lẽ
giá đắt nên không thông dụng.
d/ Trong năm 2008,
bộ Y tế yêu cầu các bệnh viện tại các thành phố lớn phải sửa đổi hiệu
thuốc bán lẻ trong bệnh viện đúng quy cách của GPP ( Good Pharmacy Practice).
Tuy nhiên, cho đến nay, phần lớn những hiệu thuốc trong bệnh viện vẫn
chưa có dược sĩ đứng đó để hướng dẫn cho bệnh nhân.
NHỮNG ĐỀ NGHỊ CỦA CHÚNG TÔI:
1/ Những
đại học y khoa ở Hoa-kỳ có liên hệ với các đại học y khoa ở Việt-nam,
thí dụ UCSF đối với đại học y khoa Saigon, nên giúp chúng tôi thuyết phục
các đại học y khoa Việt-nam chương trình Dược lâm sàng cần thiết cho các
bệnh viện, để giúp các bác sĩ sử dụng và kê đơn an toàn và thích hợp cho
bệnh nhân. Hiện nay, rất nhiều bác sĩ đại học y khoa đều không muốn hợp
tác phát triển chương trình Dược lâm sàng tại Việt-nam.
2/ Chúng
tôi đã quảng bá và phần lớn được hoan nghênh trang web yduocngaynay. Các
bác sĩ và dược sĩ nên viết những bài về thực hành y và dược khoa để giúp
các bác sĩ ở các vùng xa tại Việt-nam không đọc được tiếng Anh có thể
mở rộng kiến thức và nâng cao trình độ chuyên môn chăm sóc bệnh nhân.
3/ Các bệnh viện ở Việt-nam
nên cân bệnh nhân khi nhập viện và ghi tuổi tác trên mẫu yêu cầu xét nghiệm.
Những phòng xét nghiệm nên có chương trình tính độ thanh thải theo công
thức Cockkroft and Gault, và ghi vào báo cáo xét nghiệm nếu thấy không
bình thường.
4/ Khoa Dược
các bệnh viện nên cung cấp cho các bác sĩ danh sách những thuốc thường
dùng trong bệnh viện cần điều chỉnh liều khi thấy độ thanh thải thấp.
Có thể nhờ bộ môn dược lâm sàng đại học Dược Saigon cung cấp cho tài liệu
này.
5/ Để tránh
nguy hại thận khi sử dụng nhóm aminoglycosides, các bệnh viện nên học
phương pháp của bệnh viện Nhân dân Gia định đang sử dụng, đo bằng sắc
ký nên dễ thực hiện hơn, để tính liều lượng và khoảng cách giữa 2 liều
tiếp nhau chính xác hơn.
Dược sĩ Lê văn Nhân
Tiếp theo Ý kiến của Dược sĩ Lê văn Nhân
về
“Một vài Nhận xét về Cách Sử dụng Thuốc tại Việt nam”
Bác sĩ Nguyễn văn
Đích
Dược sĩ Lê văn Nhân đã có ý kiến
chính xác, tôi chỉ triển khai thêm.
1.
Về điều trị cao huyết áp hướng dẫn khuyên chọn thuốc phù hợp với từng
đối tượng.như tuổi tác và các bệnh kết hợp.
* Đối với
các trường hợp áp huyết tâm thu trên 180 mmHg, tâm trương trên 120 mmHg
mà không có triệu chứng, gọi là cao huyết áp khẩn cấp, hạ nhanh áp huyết
xuống dưới 160/100 là một vấn đề bàn cãi. Trước đây có khuynh hướng hạ
huyết áp nhanh bằng các thuốc uống như clonidine, nifedipine dưới lưỡi,
captopril uống hay ngậm dưới lưỡi. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp áp
huyết tự giảm sau khi bệnh nhân thư giãn trong phòng yên lặng. Không có
bằng chứng cho thấy rằng giảm áp huyết nhanh có lợi, ngược lại còn có
thể có hại vì gây thiếu máu cục bộ ở tim và não. Trong trường hợp áp huyết
cao không gây tổn thương tại các bộ phận chủ yếu, có thể giảm áp huyết
xuống dưới 160/100 trong nhiều giờ cho đến vài ngày. Nếu bệnh nhân đang
điều trị mà không uống thuốc đều thì cần uống thuốc đều, nếu bệnh nhân
đã uống thuốc đều có thể tăng liều lượng hoặc thêm một lọai thuốc khác.
Nếu bệnh nhân chưa từng điều trị, có thể giảm áp huyết 20-30 mmHg trong
vài giờ bằng cách dùng một liều furosemide 20mg hoặc clonidine 0.2mg hoặc
một liều nhỏ captopril 6.25-12.5mg. Một cách khác là giảm áp huyết trong
từ một đến hai ngày bằng thuốc uống chẹn calci (không ngậm dưới lưỡi),
chẹn bêta, ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể angiotensin tác dụng
nhanh sau đó chuyển sang các lọai tác dụng kéo dài.
** Đối với
các trường hợp áp huyết trên 180/120 có gây tổn thương võng mạc (xuất
huyết, tiết dịch, phù gai thị), suy thận tiến triển nhanh, và/hoặc phù
não, bệnh nhân cần cấp cứu bằng các lọai thuốc tiêm truyền tĩnh mạch để
hạ áp huyết tâm trương xuống *100 đến 105 mmHg trong từ hai đến sáu giờ,
không quá 25% so với trị số áp huyết lúc đầu.. Điều trị hạ áp quá tích
cực không cần thiết và có thể có hại. Sau khi áp huyết ổn định cần chuyển
sang thuốc hạ áp dạng uống để đem áp huyết tâm trương xuống 85-90 mmHg
trong từ hai đến ba tháng. (Theo G.L. Bakris và N.M. Kaplan trong
UpToDate, 17.1, 2009).
2.
Trong những năm gần đây, nền y tế Việt nam có khá hơn, mong rằng với việc
chấp nhận nền kinh tế thị trường, cho tư nhân đầu tư vào y tế, sự cạnh
tranh lành mạnh sẽ giúp cải thiện chất lượng phục vụ.
3. Với
đà tiến triển của y khoa, người thấy thuốc cần được trang bị nhiều hơn
về khoa học cơ bản, sinh viên cần có trình độ tương đương với cử nhân
khoa học trước khi bắt đầu học y khoa. Cần thay đổi cách dạy và học. Đại
học phải thoáng và mở rộng giúp cho người sinh viên biết suy luận, biết
tìm tòi, biết dùng kiến thức để giải quyết vần đề hơn là học để “trả bài”.
Giáo dục y khoa phải thực tiễn, chú trọng vào sự vận dụng kiến thức để
giải quyết từng trường hợp bệnh nhân hơn là chỉ chú trọng vào lý thuyết.
Cần đánh giá một người dựa vào khả năng làm việc và kết quả đạt được hơn
là bằng cấp. Cần yêu cầu và tạo điều kiện để người bác sĩ sau khi ra trường
có thể tiếp tục cập nhật kiến thức.
Bác sĩ Nguyễn Văn Đích
>>>back>>>
|
 |