 |
MỘT SỐ TIN
VỀ THUỐC
Dược sĩ Lê-văn-Nhân
Cảnh báo của FDA về thuốc
Byetta:
Exenatide là thuốc hạ đường thuộc nhóm bắt chước incretin,
bán tại Hoa-kỳ dưới dạng bơm tiêm với tên biệt dược Byetta. Theo bản tin
FDA ngày 11.02.09, người sử dụng thuốc trị tiểu đường type 2 Exenatide
có thể có vấn đề ở thận như suy thận.
Từ tháng 4 năm 2005 đến tháng 1o năm 2008, FDA nhận 78 báo cáo rối loạn
chức năng thận ở người dùng Exenatide. Vấn đề xảy ra nhiều nhất ở bệnh
nhân đã có sẵn bệnh thận hay 1 hay nhiều yếu tố nguy cơ phát sinh vấn
đề ở thận. Byetta được bác sĩ kê đơn điều trị bệnh tiểu đường type 2,
đã có 7 triệu đơn thuốc được bán ra giữa tháng 4 năm 2005 đến tháng 10
năm 2008, theo thông tin của FDA.
Bác sĩ cũng như bệnh nhân dùng Byetta phải chú ý xem có dấu hiệu hay triệu
chứng vấn đề ở thận, theo lời bác sĩ Amy Egan, bộ phận sản phẩm chuyển
hóa và nội tiết tại Trung tâm đánh giá và nghiên cứu thuốc (CDER) của
FDA.
Bệnh nhân phải được thông báo vấn đề chức năng thận có thể đưa đến thay
đổi máu nước tiểu, tần số và lượng nước tiểu, phù bàn tay và bàn chân
không giải thích được, mệt mỏi, thay đổi ăn ngon miệng hay tiểu hóa, đau
âm ỉ ở vùng lưng giữa và dưới.
Bác sĩ Egan khuyên các bệnh nhân nếu gặp bất cứ triệu chứng nào nêu trên,
nên báo ngay cho bác sĩ biết.
Buồn nôn, ói mửa và tiêu chảy là những tác dụng phổ thông nhất khi dùng
Byetta. Những tác dụng phụ này có thể đóng góp phát sinh loạn chức năng
thận, đưa đến tồn đọng chất thải trong máu, với kết quả bệnh trầm trọng
và có tiềm năng bệnh nguy hiểm đến tính mệnh.
Vài loại kháng sinh có thể gây tác hại cho
thai nhi
Dùng kháng sinh trong khi mang thai không tăng nguy cơ
tăng dị tật thai nhi, nhưng nghiên cứu cho biết có một số trường hợp ngoại
lệ. Penicillin, kháng sinh dùng nhiều nhất trong thời kỳ mang thai, cũng
như erythromycin, cephalosporin và quinolone thường không liên quan với
tăng nguy cơ sinh khoảng 30 dị tật thai nhi. Tuy nhiên, nghiên cứu tìm
thấy 2 nhóm kháng sinh dính líu đến nguy cơ cao nhiều dị tật thai nhi,
đó là nitrofurantoin và sulfonamide hay còn gọi là sulfamide ở Pháp và
Việt-nam. Những thuốc này thường dùng cho nhiễm trùng đường tiểu và một
số bệnh nhiễm khác.
Phụ nữ sinh con quái tưg không não (anecephalia), một dị tật chết người
ở sọ và não, có khả năng gấp 3 lần đã dùng sulfamid. Sulfamid cũng dính
líu với tăng cao nguy cơ như dị tật tim như hội chứng tim trái giảm sản
(hypoplastic) và hẹp trít động mạch chủ, tịt lổ mũi sau, thiếu chân nằm
ngang và thoát vị hoành cách mô (diaphragmatic hernia) khiến bị khó thở.
Nitrofurantoin dính lìú đến nhiều dị tật thai nhi như tật không nhãn cầu,
tật mắt nhỏ và nhiều dị tật tim bẩm sinh khác. Bà mẹ sinh con hở môi hay
hở hàm ếch có khả năng gấp đôi đã dùng nitrofurantoin.
Tuy nhiên, phụ nữ có thai không nên quá lo-lắng nếu phải dùng một kháng
sinh để điều trị bệnh nhiễm trong khi mang thai, theo một bác sĩ ở cơ
quan CDC (phòng chống bệnh Hoa-kỳ). Bệnh nhiễm không chửa trong khi mang
thai có thể đưa đến nhiều hậu quả quan trọng như nhiễm huyết bà mẹ và
sinh con thiếu tháng.
Tên thương mãi của Nitrofurantoin là Furadantin, Macrobid và Macrodantin.
Tên thương mãi của sulfamid là Bactrim và Septra.
Theo Archives of Pediatrics & Adolescent Medicine
So sánh 3 chế độ insulin:
thêm insulin căn bản ngày 1 lần vào thuốc uống điều trị có thể mang đến
một số lợi điểm so với dùng chế độ thay thế khác.
Nghiên cứ “4-T” do kỹ nghệ dược phẩm tài trợ được thiết kế quan sát nhiều
chế độ insulin khác nhau cho bệnh nhân tiểu đường type 2 (TD2). Các nhà
nghiên cứu phân phối ngẩu nhiên 708 bệnh nhân TD2 đang dùng metformin
và sulfonylurea (mức HbA1c 7%-10%) nhận 1 trong 3 chế độ insulin thêm
vào thuốc uống:
- insulin căn bản detemir (Levemir) tiêm ngày 1 lần
- insulin 2 pha aspart (NovoMix 30) ngày 2 lần
- insulin trước khi ăn (prandial) aspart (NovoRapod) tiêm ngày 3 lần
Trong thử nghiệm, nếu mức HbA1c vẫn cao hơn 6.5% mặc dầu đã điều chỉnh
tăng liều insulin, ngưng sulfonylurea và thêm 1 insulin thứ hai (3 liều
trước bữa ăn thêm vào nhóm căn bản (basal); tiêm trước bữa ăn trưa vào
nhóm 2 pha; hay tiêm 1 liều insulin căn bản vào nhóm tiêm trước 3 bữa
ăn). Kết quả 1 năm sau được báo cáo năm 2007.
Bây giờ các nhà nghiên cứu báo cáo kết quả sau 3 năm: mức HbA1c giống
nhau ở cả 3 nhóm- khoảng 7%. Lên cân trung bình thấp hơn ở nhóm insulin
căn bản (3.6 Kg) so với 2 nhóm kia (6 Kg). Đường hạ thấp (hypoglycemia)
ít phổ thông ở nhóm tiêm insulin căn bản và xảy ra nhiều nhất ở nhóm tiêm
trước bữa ăn.
Theo : Three year efficacy of complex insulin regimens in type 2 diabetes
NEJM 10.29.09
Không nên dùng valproate như là thuốc
điều trị tuyến đầu bệnh động kinh cho phụ nữ ở lứa tuổi mang thai
Một báo cáo nghiên cứu NEAD trong hội nghị thường niên hội bệnh động kinh
Hoa-kỳ năm 2008, cho biết dùng valproate trong khi mang thai tăng nguy
cơ phát triển thần kinh ở các em bé so với những thuốc chống động kinh
khác.
NEAD (Neurodevelopment Effects of Antiepileptic Drugs Study tạm dịch là
nghiên cứu tác dụng phát triển thần kinh của thuốc chống động kinh).
Báo cáo lần đầu năm 2006 cho biết valproate dính líu với nguy cơ đáng
kể dị tật bẩm sinh chính và chết thai nhi. Lần này nghiên cứu trẻ em 3
tuổi và theo dõi đến 6 tuổi về nhận thức. Nhóm nghiên cứu thấy trẻ em
phơi nhiễm với valproate trong tử cung giảm chỉ số thông minh so với những
thuốc chống động kinh khác. Do đó không được dùng valproate cho phụ nữ
có khả năng thụ thai vì sẽ sinh quái thai không sửa được.
Thuốc mới Valturna (Aliskiren/ Valsartan):
FDA chấp Valturna là kết hợp aliskiren (thuốc kháng renin)
với valsartan (ARB). Hai thuốc này đề tác dụng lên hệ Renin-Angiotensin,
nên kết hợp có thể xem là trùng lặp. Tuy nhiên, nhà sản xuất chứng minh
khi kết hợp, huyết áp giảm thêm 5/3 mm Hg so với dùng mỗi thuốc riêng
rẽ.
Không nên dùng thuốc kháng cholin cho người
cao tuổi
Dùng thường xuyên thuốc kháng cholin dính líu đến nguy
cơ giảm nhận thức và sa sút trí tuệ ở người cao tuổi qua 1 nghiên cứu
quan sát gần 7 ngàn người cao tuổi từ 65 trở lên.
Trong thời gian 4 năm, phụ nữ dùng thuốc kháng cholin giảm nhiều hơn khả
năng nói chuyện so với phụ nữ không dùng nhóm thuốc này. Đàn ông dùng
thuốc kháng cholin giảm đáng kể trí nhớ hình ảnh so với những ông khác
không dùng thuốc. Người ta ghi nhận tăng sa sút trí tuệ ở những người
tham dự tiếp tục dùng thuốc kháng cholin liên tục trong suốt thời kỳ nghiên
cứu. Những kết quả này tin cậy khi nhìn lại 27 nghiên cứu, và thấy có
liên quan giữa thuốc kháng cholin và hoang tưởng, rối loạn nhận thức,
hay sa sút trí tuệ ở gần hết các nghiên cứu.
Người cao tuổi dùng thuốc kháng cholin trong một số loại bệnh như trầm
cảm (thuiốc chống trầm cảm 3 vòng), đái són (thí dụ oxybutynin), mất ngủ
hay dị ứng (chlorpheramin, diphenylhydramin), bệnh đường hô hấp (ipratropium,
tiotropium) và bệnh Parkinson (benztropin).
Nên giải thích cho người bệnh cũng như bác sĩ kê đơn nên tránh dùng những
thuốc này cho người cao tuổi và nên nghĩ đến những thuốc an toàn hơn.
Theo Arch Intern med 2009;169:1317
Statin cho suy tim
CORONA (Controlled Rosuvastatin Multinational Trial in Heart Failure
tạm dịch là nghiên cứu đa quốc gia xem Rosuvastatin có lợi cho bệnh suy
tim không). Nghiên cứu này tuyển mộ 5011 bệnh nhân suy tim bậc 2 đến 4
theo NYHA, tỷ lệ tống suất tâm thất trái LEVF ≤ 40%, phân phối ngẩu nhiên
dùng hoặc rosuvastatin 10 mg.ngày hay giả dược. Báo cáo đầu tiên năm 2007
không thấy khác biệt đáng kể về kết quả chính nghiên cứu (số người chết
do bất cứ nguyên nhân nào) sau thời gian theo dõi trung điểm 33 tháng.
Năm nay 2009 người ta xem lại vấn đề, và bảo rosuvastatin (biệt dược Crestor)
tỷ lệ nghịch với mức NT-proBNP, như vậy thuốc đã cắt nguy cơ sự cố tim
mạch ở người bệnh suy tim không nặng lắm dựa theo mức NT-proBNP.
Tác giả nghiên cứu bảo trong trường hợp suy tim nhẹ, sự cố động mạch vành
có vẻ quan trọng hơn, và điều này statin có thể sửa đổi được, trong khi
chết do tim ngày càng suy dần, với mức NT-proBNP càng cao, statin không
thể sửa đổi được nữa.
Theo Journal of the american college of cardiology 11.10.2009
Dược sĩ Lê-văn-Nhân
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết
này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |