 |
Cabergoline
điều trị Hyperprolactinemia
Ds Kathy Nguyễn và Ds Christina
Nguyễn
Thông
Dịch: Ds Lê Văn Nhân
Câu hỏi về hyperprolactinemia
Vui lòng cung cấp thêm cho em thông tin về Cabergoline
trong điều trị hyperprolactine ở nữ:
1. liều lượng dùng
2. các tác dụng phụ lúc dùng thuốc? và nếu có tác dụng
trên các cơ quan khác thì khi ngưng dùng có hồi phục?
3. hy vọng của thuốc trong điều trị hyperprolactine:
có phải Cabergoline tốt hơn Bromocriptine? Carbegoline có khả năng hạ
được Prolactine về bình thường?
4. thời gian điều trị thường là bao lâu?
5. thuốc của hãng Dược nào tốt hơn?
Kathy Nguyễn, dược sĩ bệnh viện ở Cần-thơ
Người trả lời: Christina
Nguyễn, Clinical Pharmacist ở California
(information taken from “clinical pharmacology”
for courtesy)
Phiên dịch tiếng Việt: ds Lê-văn-Nhân
Cabergoline (Dostinex)
là 1 chất dẫn xuất từ nấm cựa gà (ergot de seigle) và là chất đồng vận
(agonist) khá chọn lọc thụ thể dopamine D2, chất ức chế mạnh tiết prolactin
từ tuyến đồi (hypophyse). Ngoài chỉ định dùng điều trị bệnh Parkinson,
cabergoline còn dùng để điều trị chứng cao prolactin huyết (hyperprolacteinemia).
Thuốc cũng có thể dùng để điều trị chứng vô sinh ở phụ nữ bị cao prolactin
huyết.
Liều điều trị prolactin huyết hoặc không có nguyên nhân hoặc do u bướu
tuyến yên (pituitary adenoma):
Liều uống :
Người lớn: Khởi đầu 0.25 mg uống mỗi tuần 2 lần, tăng liều lên
dần mỗi lần 0.25 mg cho 1 liều và không được đổi liều dưới 4 tuần cho
đến khi liều đến 1mg uống tuần 2 lần. Một khi liều hàng tuần cho thấy
hiệu nghiệm ở khoảng 0.5- 3 mg/tuần, mức prolactin sẽ bình thường trở
lại ở 73% bệnh nhân, và kích thước u bướu giảm trung bình 31% ( khoảng
biến thiên 5-95%). Có thể phải nghĩ đến việc ngưng thuốc sau 6 tháng với
mức prolactin huyết thanh chấp nhận được. Kiểm tra định kỳ mức prolactin
để xem có nên điều trị trở lại bằng cabergolin không.
Trẻ em: an toàn và hiệu quả chưa được xác định.
Liều đặt âm đạo:
Phụ nữ người lớn: có những báo cáo cho biết liều 0.5 mg đặt âm đạo 2 đến
5 lần mỗi tuần có thể hiệu nghiệm để bình thường hóa mức prolactin cho
những người không dung nạp được liều uống thuốc đồng vận dopamine. Cần
dùng liều thấp nhất để kiểm soát triệu chứng.
Phản ứng nghịch:
Phần lớn phản ứng nghịch quan sát được khi dùng
cabergolin từ mức nhẹ đến vừa phải và có thể giảm thiểu bằng cách uống
thuốc với thức ăn và theo đúng hướng dẫn tăng liều. Dùng lâu sẽ dung nạp
với các hiệu quả phụ. Hiệu quả phụ thường được báo cáo nhiều nhất là buồn
nôn, ói mửa (27%/2%), nhức đầu (26%), choáng váng (15%),táo bón (10%),
suy nhược (9%), mệt mỏi (7%), đau ổ bụng (5%) và buồn ngủ (15%). Phần
lớn hiệu quả phụ không xuất hiện theo liều lượng ngoại trừ buồn nôn, ói
mửa. Kết quả 1 nghiên cứu so sánh cabergoline và bromocriptin cho thấy
cabergolin có hồ sơ dung nạp được chuộng hơn bromocriptin. Đặc biệt, tác
dụng phụ lien quan đến đường ruột ít gặp hơn và ít nghiệm trọng hơn với
nhóm cabergoline. Tỷ số ngưng dùng thuốc do không dung nạp được cabergolin
và bromocriptin là 3% và 12% theo thứ tự. Tác dụng phụ xảy ra ở 1% đến
5% bệnh nhân dùng cabergoline gồm lo âu, trầm cảm, tiêu chảy, rối loạn
kinh nguyệt, loạn tiêu hóa, đau vú (mastalgia), dị cảm (paresthesia),
chóng mặt và trục trặc thị giác (không đặc hiệu). Phần lớn tác dụng phụ
của cabergoline không xuất hiện theo liều lượng.
Mặc dầu cabergoline chỉ có ái lực rất nhỏ với thụ
thể adrenergic, dữ liệu nghiên cứu lâm sàng cho thấy hạ huyết áp thế đứng
thường được báo cáo trong một số nghiên cứu. Phần lớn trường hợp hạ huyết
áp không có triệu chứng và không cần phải ngưng thuốc.
Một trường hợp viêm màng ngoài tim co thắt và sau
đó phát sinh với hội chứng viêm cơ xơ màng phổi-phổi (pleuropulmonary
inflammatory-fibrotic syndrome) đã xảy ra liên kết với dùng cabergoline.
Giống như những chất dẫn xuất từ nấm cựa gà, cabergoline liên quan đến
thay đổi màng phổi-phổi, tràn dịch màng phổi (pleural effusion), xơ hóa
phổi và bệnh van tim khi dùng lâu ngày. Theo nhà sản xuất, ngưng cabergoline
sẽ thấy cải thiện dấu hiệu và triệu chứng tràn dịch màn phổi, phổi xơ
hóa và bệnh van tim. Thuốc phải được dùng cẩn thận ở người có bệnh đường
hô hấp hay bệnh tim kết nối với mô xơ.
Phản ứng nghịch thường quan sát được ở người bệnh
Parkinson uống cabergoline gồm lẫn lộn, rối loạn vận động, ảo giác và
phù ngoại vi.
Suy tim và đau dạ dày ruột hiếm nhưng đã được báo
cáo như là tác dụng phụ đáng kể.
Ds Katny Nguyễn và Ds Christina Nguyễn
Ds Lê Văn Nhân phiên dịch
Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài viết
này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |