 |
ỨNG
DỤNG EPOETIN TRONG UNG THƯ
Dược sĩ Lê-văn-Nhân
Thuật ngữ:
- ESA ( Erythropoiesis Stimulating Agents) thuốc kích thích sinh máu đỏ
- ASCO ( American Society of Clinical Oncology) Hội
ung thư lâm sàng Hoa-kỳ Nội tiết tố kích thích
tăng sinh máu trong tủy xương tiếng Anh gọi là Erythropoetin và tiếng Pháp
là Epoetin với 2 đồng phân là alpha và beta. Việt-nam chỉ dùng thuốc của
Pháp nên có 2 biệt dược:
- epoetine-α (Eprex)
- epoetine-β (Neorecomon) ESA
được chấp thuận cho dùng trong những trường hợp sau:
1/ thiếu máu do suy thận mãn
2/ thiếu máu ở bệnh nhân nhiễm HIV đang chửa bằng
zidovudine
3/ thiếu máu do trị liệu bằng hóa chất (chemotherapy)
4/ dùng ESA để giảm nhu cầu truyền máu không phải
của bản thân (allogenic blood transfusion) trước khi mổ. Ủy
ban cố vấn cho FDA họp trong tháng 3/08 và duyệt lại những thử nghiệm này
thấy ngày càng nhiều cho thấy bệnh nhân ung thư nhận ESA có kết quả tệ hại
hơn là những người không dùng.
Thay đổi về thông tin trên nhãn và giấy kèm theo hộp thuốc về ESA:
Ủy ban nghiên cứu an toàn của ESA
tại Hoa-kỳ gởi khuyến cáo cho FDA yêu cầu các nhà sản xuất đưa những thông
tin này vào hộp đen trên nhãn thuốc:Có thể xem là cảnh báo mạnh mẻ nhất
cho một thứ thuốc đã được FDA chấp thuận, kèm theo thay đổi về hướng dẫn
liều lượng thuốc ESA tại Hoa-kỳ:
* FDA
khuyên các bác sĩ kê đơn dùng liều thấp nhất ESA để tăng dần nồng độ hemoglobin
đến mức thấp nhất đủ để không cần phải truyền máu.
* Thuốc tăng nguy cơ tử vong
và sự cố tim mạch trầm trọng khi dùng để đưa mức hemoglobin cao hơn 12 g/dL.
* FDA báo cáo sử dụng ESA
rút ngắn thời gian u bướu tiến triển ở bệnh nhân ung thư đầu và cổ nặng
đang dùng xạ trị.
* Thông tin trên nhãn thuốc
cho biết ESA liên quan đến rút ngắn thời gian còn sống và tăng tử vong do
bệnh tiến triển ở bệnh nhân ung thư vú di căn đang dùng hóa trị.
* ESA cũng tăng nguy cơ tử
vong ở bệnh nhân với bệnh ác tính đang hoạt động không dùng hóa trị hay
xạ trị và không có chỉ định cho nhóm dân số này.
* Khung cảnh báo cũng ghi
chú là bệnh nhân được điều trị với ESA trước khi phẩu thuật để giảm truyền
máu không phải của bản thân có tỷ suất cao sinh huyết khối ở tĩnh mạch sâu.
Báo cáo mới đây về nguy cơ khi dùng ESA cho bệnh nhân ung thư:
|
Nghiên cứu |
Ung thư |
N |
Thuốc nghiên cứu |
Báo cáo nguy cơ |
HgB g/dL
mục tiêu |
|
Thiếu máu trong ung thư
BEST
DAHAN CA 10
EPO-CAN-20
|
Ung thư ác tính hoạt
động không hóa/xạ trị
Ung thư vú di căn
với hóa trị
Đầu và cổ
với hóa/xạ trị
Ung thư phổi không
phải tế bào nhỏ dạng tiến triển
|
989
939
484
70 |
Darbepoetin-α vs giả
dược
Epoetin-α vs giả
dược
Darbepoetin-α vs giả
dược
Epoetin-α vs giả
dược
|
Nhóm điều trị
nguy cơ tử
vong
nghẽn huyết
khối tĩnh mạch
Nhóm điều trị
¯ thời gian
sống sót
tử vong liên
quan bệnh tiến triển lúc 4 tháng
Nhóm điều trị
¯ thời gian
ung thư tiến triển
¯ thời gian
tiến đến chết
Nhóm điều trị
¯ thời giant
rung bình còn sống
|
12-13
Ngoài chỉ định
12-14
Ngoài chỉ định
14.0-15.5
Ngoài chỉ định
12-14 |
Từ viết tắt: CA : cancer (ung thư), vs so với, HGB: hemoglobin
Chúng ta chú ý là 3 nghiên cứu sau đều đưa hemoglobin lên quá mức đề nghị,
nên xem là ngoài phần chỉ định (off-label) được FDA chấp thuận.
Nghiên cứu mới về an toàn của ESA trong
ung thư:
Trong đại hội ung thư lâm sàng Hoa-kỳ tháng 6/08, bác sĩ Anthony Blau,
từ đại học y khoa Washington thành phố Seatle,tiểu bang Washington và
nhóm nghiên cứu điều tra xem mức chất chuyển tin thụ thể erythropoietin
(mRNA) có thể nhận diện được bệnh nhân nào bị ung thư tăng trưởng do erythropoietin.
Nhóm của ông nghiên cứu 101 u bướu từ bệnh nhân tham gia nghiên cứu ENHANCE.
Nghiên cứu pha 3 ngẫu nhiên, mù đôi, kiểm chứng với giả dược cho thấy
epoetin-β sửa chửa chứng thiếu máu ở bệnh nhân ung thư đầu và cổ đang
dùng xạ trị, nhưng không cải thiện kiểm soát ung thư hay thời gian sống
sót (Lancet, 2003;363:1255-1260). Tác giả nghiên cứu, dẫn đầu bởi bác
sĩ Michael Henke, từ phòng khám bệnh đại học Freiburg, Đức quốc, gợi ý
có thể khả năng kiểm soát bệnh bị hỏng.
Bác sĩ Henke cùng làm việc trong nghiên cứu mới này với bác sĩ Blau, và
họ tìm thấy bệnh nhân điều trị với u bướu không bị cắt bỏ biểu lộ mức
mRNA thụ thể erythropoietin trên trung bình, trải nghiệm rút ngắn thời
gian sống sót không tiến triển ở vùng chuyển động so với nhóm dùng giả
dược (P= 0.02, n=14).
Họ tìm thấy hiệu quả tương tự ở bệnh nhân u bướu với mức mRNA của Jak2
cao. Đây là chất chuyển tin chính tín hiệu thụ thể erythropoietin trong
hồng cầu.
Các nhà nghiên cứu không quan sát được hiệu quả này ở bệnh nhân không
phẩu thuật u bướu với mức mRNA biểu lộ thụ thể erythropoietin dưới trung
bình (P= 0.80; n= 14). Họ quan sát không thấy hiệu quả ở bệnh nhân đã
cắt bỏ một phần hay hoàn toàn u bướu.
Bác sĩ Blau nhấn mạnh những kết quả này mới chỉ là sơ khởi, và cần có
những nghiên cứu lớn hơn để xác nhận.
Trong khi đó, đại diện của Amgen, công ty sáng chế Epoetin ở Hoa-kỳ tin
rằng không có chứng cứ rõ ràng thụ thể epoetin tham dự vào tiến triển
u bướu và không có chứng cứ đáng tin cậy là thụ thể epoetin hiện diện
trong tế bào ung thư.
Theo hội ung thư lâm sàng Hoa-kỳ, ESA không những có tác
dụng trên hồng cầu, mà có thể trên mạch máu của u bướu. Họ cũng khuyến
cáo là các nghiên cứu từ trước đến nay chỉ nhắm vào mức hemoglobin, mà
không đặt câu hỏi bệnh nhân có thể sống thêm bao lâu và mức an toàn lâu
dài như thế nào.
Cơ quan y dược phẩm Âu châu (European Medicines Agency) đưa ra khuyến
cáo là bác sĩ và bệnh nhân khi muốn dùng thuốc epoetin nên được thông
tin đầy đủ lợi và hại cho từng cá nhân trước khi quyết định, nên để ý
đến kiểu và loại ung thư, mức độ thiếu máu, bệnh nhân có thể sống thêm
trong bao lâu, môi trường bệnh nhân được chữa trị và ý thích của bệnh
nhân.
Dược sĩ Lê-văn-Nhân
Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài viết
này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |