 |
Thuốc
Ức Chế Tyrosine Kinase Hay Nhóm –TINIB
Ds
Lê-văn-Nhân
Kinase là enzym xúc tác phản ứng chuyển
nhóm phosphat từ ATP qua 1 chất phản ứng.
Khi chất phản ứng là protein mang 1 hay nhiều gốc tyrosine, những enzym
này gọi là protein tyrosine kinase hay đơn giản hơn là tyrosine kinase.
Hoạt động của tyrosine kinase hoặc nằm bên trong
tế bào của thụ thể tự gắn phosphat khi được kích hoạt (thụ thể tyrosine
kinase nội tại) hoặc bên trong tế bào chất ( thụ thể kết nối với tyrosine
kinase).
Protein kinase rất nhiều và có nhiều cấu trúc khác
nhau nên có khả năng ức chế đặc biệt với cấu trúc liên hệ với yếu tố tăng
trưởng nào đó.
Tyrosine kinase giữ vai trò chính yếu trong việc
tải nạp tín hiệu bên trong tế bào, hay những giòng thác tín hiệu, dẫn
đến việc tăng sinh hay phân hóa tế bào.
Thuốc ức chế tyrosine kinase có tên chung là –tinib,
thí dụ:
- Imatinib (Glivec)
- Gefitibib (Iressa) chỉ định ung thư phổi không
phải tế bào nhỏ.
- Erlotinib (Tarceva)
- Suntinib (sutent)
- Lapatinib (Tykerb)
- Dasatinib ( Sprycel) chỉ định ung thư bạch cầu
tủy mãn tính
- Nilotinib (Tasigna)
Cũng có những chất ức chế tyrosine kinase không
dùng tên –tinib như Zactima, do Astra -Zeneca sáng chế, đang ở giai đoạn
III, để điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.
Ngày 03.13.07 FDA chấp thuận Lapatinib (Tykerb) cho bệnh
nhân ung thư vú tiến triển hay di căn, HER2 dương tính, dùng chung với
capecitabine(Xeloda).
Điều trị kết hợp này chỉ định trước đó đã điều trị với các thuốc chữa
ung thư khác, gồm anthracycline, taxane và trastuzumab (Herceptin).
Theo hội ung thư Hoa-kỳ, khoảng 180 000 ca bệnh mới ung thư vú chẩn đoán
mỗi năm. Khoảng 8000 đến 10 000 phụ nữ chết vì ung thư vú di căn với HER2
dương tính.
Lapatinib là một phân tử tổng hợp, hoạt động ở dạng uống, ức chế tyrosine
kinase liên quan đến đường báo hiệu HER2 và thụ thể yếu tố tăng trưởng
biểu bì (EGFR = Epidermal Growth Factor Receptor). Lapatinib làm mất tín
hiệu của tế bào u bưới cần thiết để tăng trưởng. Nhưng lapatinib khác
những thuốc chữa trị ung thư khác là vào được bên trong tế bào và khóa
chức năng của protein HER2. FDA công nhân Lapatinib là thuốc điều trị
mục tiêu chống ung thư ( targeted anti-cancer treatment) mặc dầu thuốc
này bào chế bằng tổng hợp hóa học thay vì sinh học như Trastuzumab.
Khoảng 20 đến 25% ung thư vú có mức HER2 cao bất thường và kết quả là
bệnh rất xâm lấn. Herceptin (Trastuzumab) khóa hoạt động của thụ thể bằng
cách gắn vào thụ thể bên ngoài tế bào. Trái lại, Lapatinib gắn vào phần
của thụ thể bên trong tế bào.
Kết quả một nghiên cứu lâm sàng đăng trên NEJM ngày 12.28.06 chứng
tỏ lapatinib làm chậm tiến triển ung thư nhưng không làm chậm lại tử suất
toàn cầu.
Phụ nữ dùng kết hợp Lapatinib với Capecitabine (Xeloda) kéo dài thời gian
tiến triển bệnh lên gấp đôi so với dùng Capecitabine một mình ( 36.9 tuần
so với 19.7 tuần).
Tác dụng không mong muốn thường gặp ở lapatinib
là rối loạn tiêu hóa, nhất là tiêu chảy, ít hơn gồm buồn nôn, ói mửa và
ngứa. Một phần nhỏ người tham dự giảm chức năng tim với đặc điểm thở dốc.
Tình trạng này thường thuận nghịch.
Lapatinib do GlaxoSmithKline phát hành dưới dạng
thuốc viên 250 mg. Mỗi ngày bệnh nhân uống 1250 mg một lần trong 21 ngày
và kết hợp với Capecitabine (Xeloda) từ ngày 1 đến 14 trong chu kỳ 21
ngày.
Ds Lê Văn Nhân
Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài viết
này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |