 |
Viêm
Sưng Ruột Dư Cấp Tính – Viêm Ruột Dư Làm Mủ
Bác sĩ Trần Mạnh Ngô
Bệnh nhân là một phụ nữ người Việt, 33 tuổi, than phiền bị đau bụng cả
đêm hôm qua ngày 1 /18 /1993.
Lúc đầu đau bụng ở vùng chấn thủy, sáng nay có vẻ đau nhiều hơn bên phải.
Bệnh nhân than phiền ói mửa nhiều. Cảm thấy run lạnh, không thấy nóng.
Không tiêu chảy. Đi cầu phân bình thường hôm qua. Bệnh nhân vào phòng
cấp cứu và đếm máu cho thấy bạch huyết cầu tăng cao 33, 000.
Tiểu sử quá khứ bị nhiễm trùng đường tiểu 2 lần, ngoài ra không có gì
trầm trọng. Bệnh nhân có đường kinh cuối cùng 2 tuần trước đây.
Nhiệt độ cơ thể 99º F, mạch 88/min, nhịp thở 18, huyết áp 120/80.
Khám nghiệm đầu, mắt, tai mũi họng, không thấy gì. Khám cổ mềm, không
triệu chứng viêm màng óc. Không có tiếng rì rào ở động mạch cổ carotid.
Tuyến giáp trạng không lớn. Ngực đối xứng, tiếng thở bình thường. Phổi
thở tiếng động bình thường. Tim đâp đều. Không tiếng xì xào. Khám bụng
than đau khi đè ấn bằng tay bện phải, phía dưới, bật lại vì đau khi nhấn
bụng. Có triệu chứng phúc mạc rõ ràng. Đau rất nhiều khi ấn bên tay phải
bụng. Không đau ở vùng chấn thủy hay vùng bụng phía dưới bên trái. Ngoài
ra, những bô phận khác như gan, lá lách không lớn. Khám vùng chậu thấy
tử cung ở vị trí nghiêng ra sau, không đau khi khám cổ tử cung. Bệnh nhân
than đau khi nhấn ở túi (cul-de-sac) bên phải. Tử cung kích thước bình
thường. Cảm tưởng là bệnh nhân bị viêm sưng ruột dư cấp tính.
Bệnh nhân được bác sĩ giải phẫu khám lại và mổ ngày
01/ 19/ 1993. Bác sĩ giải phẫu cho biết có vùng làm mủ, cấy vi trùng.
Ruột dư bị bể, có vài nơi bị hoại thư (gangrene). Bác sĩ giải phẫu rửa
bằng nước biển (normal saline) với kháng sinh. Truyền nước biển và máu
vơí kháng sinh Cefotan.
Kết quả cấy vi trùng lấy từ mủ phúc mạc ngày 01/
19/ 1993 cho thấy có vi trùng nhóm Bacteroides Fragilis, chịu hầu hết
tất cả mọi kháng sinh. Bệnh nhân được bác sĩ chuyên khoa nhiễm trùng cho
thêm Clindamycin ngày 01/ 22/ 1993.
Ngày 01/ 23/ 1993, bệnh nhân hết nóng, đếm máu trắng
xuống thấp còn 9.4. Khám bụng mềm. Bênh nhân rơì bệnh viện và tiếp tục
uống Flagyl và Floxin thêm 5 ngày.
Theo tài liệu của Bs Kirtland E. Hobler đăng trong báo
Permanente Journal, số 2, Spring, 1998, so sánh bệnh sưng ruột dư cấp
tính (acute appendicitis) vơí bệnh ruột dư làm mủ cấp tính (suppurative
appendicitis).
So sánh những trường hợp mổ trong 208 trung tâm
y tế tại tiểu bang North Carolina trong năm 1990 tơí 1995 cho biết bệnh
ruột dư làm mủ khác vơí sưng ruột dư cấp tính như sau: 1) thơì gian bị
triệu chứng đau do ruột dư làm mủ kéo dài lâu ngày hơn khoảng 2.2 ngày
so với sưng viêm ruột dư khoảng 1.7 ngày, 2) thời gian bệnh lý học (pathology)
khác nhau khoảng 3.1 so với 1.1 ngày và có sự chậm trễ thơì gian chữa
bệnh lâu hơn khoả ng 1.7 so với 1.1 ngày. Ruột dư làm mủ (suppurative
appendicitis) bắt đầu vơí những triệu chứng làm mủ, tiểu sử bệnh không
được rõ ràng, cho nên việc định bệnh khó khăn hơn, so với sưng viêm ruột
dư cấp tính (appendicitis).
Vậy, ruột dư cấp tính giúp chuẩn bệnh dễ dàng hơn
và đôi khi không cần thử nghiệm hình ảnh.
Trong cả 2 trường hợp ruột dư làm mủ và ruột dư
cấp tính, phẩm chất điều trị cần được xác định trong thơì gian bệnh nhân
bị đau bụng, vì cần định bệnh nhanh và chính xác.
Tỉ lệ mắc bệnh, tỉ lệ tử vong, cũng như tình trạng
lỡ cắt bỏ ruột dư lành mạnh, cần được giảm tới mức tối thiểu.
Mong các chuyên gia giải phẫu giúp ý kiến về những
khác biệt giữa viêm sưng ruột dư cấp tính với ruột dư làm mủ.
Bs Trần Mạnh Ngô
Xin tùy nghi sử dụng và phổ biến bài viết
này.
Xin ghi rõ nguồn: www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |