![]() |
![]() |
|
| |
||
| |
||
| |
Bạch
Cầu và Tử Vong Khi Điều Trị Ung Thư Bs Nicole Kuderer cùng các đồng nghiệp
thuộc nhóm thuộc Đại HọcY Khoa Duke nghiên cứu một tổng hợp bao gồm hơn
3000 bệnh nhân ung thư đang được chữa bệnh bằng hóa học trị liệu. Bác sĩ cần cho bệnh nhân biết những công phạt của thuốc Neurasta như nổi da ngứa và nổi đỏ chỗ chích thuốc, đau xương, bệnh nhân có thể cảm thấy người yếu đi, tiêu chảy, nhức đầu, nóng lạnh, v…v…trước khi bệnh nhân đồng ý với bác sĩ dùng thuốc tăng cao bạch cầu. Bạch cầu trong hệ thống miễn dịch có thể giúp chống nhiễm trùng. Khi lượng bạch cầu xuống thấp trong máu sẽ giảm khả năng chống nhiễm trùng. Mỗi lần dùng hóa học trị liệu ung thư, thì bạch huyết cầu lại hạ thấp nhất khoảng giữa thơì gian khi trị ung thư. Thí dụ cứ 3 tuần lễ trị liệu hóa chất thì khoảng 10 ngày sau bạch huyết cầu hạ thấp nhất. Khi bạch cầu xuống thấp nhất là lúc bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi nhiều nhất. Hiện tượng này y khoa gọi là “nadir”. Bệnh nhân cũng bị bệnh tâm thần ưu trầm nặng nhất trong giai đoạn này. Khi qua khỏi “nadir” thì bạch cầu dần dần trở lại bình thường. Sau đó, bệnh nhân có thể được phép làm hóa học trị liệu giai đoạn 2. Có trường hợp bác sĩ trị ung thư truyền trụ sinh (kháng sinh) cho bệnh nhân để giúp chống nhiễm trùng. Triệu chứng báo hiệu nhiễm trùng như: bị đau cổ họng, nóng sốt, đi tiểu đau buốt, bị ho hay khó thở. Chỗ da để ống truyền thuốc (central venous catheter) bị sưng đỏ. Tóm lại, ngày nay các bác sĩ chuyên khoa ung thư thường dùng những thuốc để nâng cao bạch cầu trong máu gọi là G-CSF (Granulocyte Colony Stimulating Factor), tức là Neupogen (Filgrastim), Granocyte (Lenograstim hay Neulasta (Pegylated Filgrastim, như vừa bàn luận ở trên. Tham Khảo: Bs Trần Mạnh Ngô thông
tin |
|
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
| |
||
![]() |
||