 |
CẤP CỨU BỆNH NHIỄM
KHUẨN SỐ 3
HỘI CHỨNG NHIỄM KHUẨN (SEPSIS SYNDROME)
Bác sĩ Nguyễn văn Thịnh,
Chuyên Khoa Nội Thương và Cấp Cứu
1/ TỶ LỆ MẮC PHẢI SEPSIS
?
Severe sepsis và septic shock là thường xảy ra và được liên kết với tỷ
lệ tử vong đáng kể và sự tiêu thụ các nguồn y tế. Mỗi năm người ta ước
tính có khoảng 751.000 trường hợp (3 trường hợp trên 1.000 người dân)
sepsis hay septic shock ở Hoa Kỳ. Sepsis và septic shock chịu trách nhiệm
số trường hợp tử vong mỗi năm bằng với nhồi máu cơ tim (215.000, hay 9,3%
các trường hợp tử vong). Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong của sepsis cao
hơn nhiều ở người già so với người trẻ. Sự tâng trưởng dân số người già
được dự kiến ở Hoa Kỳ sẽ góp phần vào một sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh 1,5%
mỗi năm, gây nên 934.000 và 1.110.000 trường hợp được ước tính vào những
năm 2010 và 2020. Tổn phí hàng năm hiện nay của sepsis và septic shock
được ước tính là 16,7 tỷ dollars.
2/ GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ CHỈ
NHỮNG RỐI LOẠN LIÊN QUAN VỚI SEPSIS
Danh pháp dành cho những rối loạn liên quan với sepsis được định nghĩa
vào năm 1990 bởi American College of Chest Physicians and the Sociery
of Critical Care Medicine. Những thuật ngữ sau đây mô tả sự tiến triển
của các dấu hiệu và các triệu chứng của hội chứng sepsis.
SIRS (Systemic inflammatory response syndrome) :
được đặc trưng bởi (1) nhiệt độ > 38 độ C hay 36 độ C ; (2) tần số
tim > 90 đập/phút ; (3) tần số hô hấp > 20 đập/phút hay nhu cầu
thông khí cơ học ; và (4) đếm bạch cầu > 12.000 tế bào/mm3 hay 4000
tế bào/mm3.
SEPSIS : SIRS cộng với một nguồn nhiễm trùng được
xác minh.
SEPTIC SHOCK : hạ huyết áp gây nên bởi sepsis (80mmHg),
tồn tại mặc dầu hồi sức dịch thích đáng cộng với giảm thông máu (hypoperfusion),
chức năng cơ quan bất thường hay loạn năng cơ quan (thiểu niệu 0,5 ml/kg/giờ,
nhiễm toan lactic, và biến đổi trạng thái tâm thần, được đánh giá mà bệnh
nhân không dùng thuốc an thần).
HỘI CHỨNG SUY NHIỀU CƠ QUAN (MODS : Multiple organ
dysfunction syndrome) : suy hơn một hệ cơ quan đòi hỏi can thiệp cấp tính.
3/ CÁC THUẬT NGỮ LIÊN QUAN VỚI
TIÊN LƯỢNG NHƯ THẾ NÀO ?
Các công trình nghiên cứu trước đây đã cho thấy rằng khi rối loạn tiến
triển từ SIRS đến SEPTIC SHOCK, tỷ lệ tử vong gia tăng. Các nghiên cứu
bổ sung đã cho thấy rằng tỷ lệ tử vong nơi các bệnh nhân thỏa mãn 3 hay
4 tiêu chuẩn đối với SIRS nhưng không có nhiễm trùng được xác nhận cũng
giống với hay hơi cao hơn tỷ lệ tử vong nơi những bệnh nhân với sepsis.
Dấu hiệu này là do một sự thiếu khả năng chẩn đoán nhiễm trùng hay các
quá trình ẩn khác vẫn cần được làm sáng tỏ.
Sepsis tiến triển thành MODS với những hậu quả bi thảm. Tỷ lệ tử vong
đối với những bệnh nhân với suy thận cấp tính trong khung cảnh sepsis
biến thiên từ 50% đến 80%. Đối với phần lớn các bệnh nhân với hội chứng
sepsis, suy ba hay nhiều hệ cơ quan đưa đến một tỷ lệ tử vong > 90%.
Các hệ cơ quan thường bị ảnh hưởng nhất trong giai đoạn sớm là phổi, huyết
học, thận, và tim mạch.
4/ BÀN VỀ SỰ HIỂU BIẾT HIỆN NAY
VỀ SEPSIS VA SEPTIC SHOCK ?
Sepsis syndrome bắt đầu với sự xâm nhập và tăng sinh của các vi khuẩn
(gram dương, gram âm, nấm, hay siêu vi trùng) trong một khoang mô bình
thường vô trùng. Nội mạc (endothelium) bị thương tổn bởi nhiễm trùng,
chấn thương, hay những tác nhân khác, và sự khởi động của đáp ứng của
hệ miễn dịch ký chủ bắt đầu. TNF alpha (tumor necrosis factor alpha),
interleukin (IL)-6, và IL-8 được liên kết với sự hoạt hóa của một chuỗi
dây chuyền viêm (inflammatory cascade) và hóa ứng động (chemotaxis) của
các bạch cầu, các tế bào mono, và những đại thực bào. Các chất kháng viêm
như IL-4, IL-10, prostaglandin, và những thành phần khác của hệ miễn dịch
hoạt động để duy trì hằng nội môi (homeostasis) đứng trước một tấn công
của nhiễm trùng. Hội chứng sepsis phát triển khi sự cân bằng giữa các
chất làm dễ và kháng viêm (pro-and anti-inflammatory substances), bị mất.
Đường đông máu (coagulation pathway) đóng một vai trò quan trọng trong
sepsis. Hệ bổ thể (complement system), hệ điều hoà mạch (vasoregulatory
system) (niric oxide, bradykinin, prostaglandins), chuỗi dây chuyền đông
máu (coagulation cascade) (yếu tố mô, protein C, thrombin, antithrombin
III), và tiêu tơ huyết (fibrinolysis) (fibrin, plasmin, và plasminogen-activating
factor) cũng đóng một vài trò. Kết quả là sự phát triển một vòng luẩn
quẩn đẩy mạnh thêm, cả tại chỗ lẫn toàn thân, quá trình viêm, sự phóng
thích các gốc oxy tự do (oxygen free radicals), và sự lắng đọng các huyết
khối vi huyết quản (microvascular thrombi), đưa đến thiếu máu cục bộ,
thương tổn tái thông máu (reperfusion injury), và giảm oxy mô. Sự giảm
oxy mô toàn bộ góp phần vào sự hoạt hóa nội mô và làm phá hủy hơn nữa
cần bằng hằng nội môi (homeostatic balance) trong sự đông máu, tính thẩm
thấu huyết quản, và trương lực mạch máu. Đây là những cơ chế chủ yếu dẫn
đến suy vi tuần hoàn, giảm oxy mô đề kháng, và loạn chức năng cơ quan.
Càng ngày càng rõ ràng rằng quá trình đông máu và viêm được liên kết mật
thiết với nhau. Những công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng các
bệnh nhân với sepsis nghiêm trọng có những nồng độ bị thiếu hụt của proteine
C, protein S, và antithrombin III. Việc cho protein C nơi các bệnh nhân
với sepsis nghiêm trọng có vẻ làm giảm tỷ lệ tử vong bằng cách vừa điều
hòa đường máu (coagulation pathway) vừa làm giảm phản ứng viêm.
5/ NHỮNG VI KHUẨN NÀO THƯỜNG LIÊN
KẾT VỚI SEPSIS ?
Một công trình nghiên cứu mới đây nơi những bệnh nhân được nhập viện vì
sepsis nặng và choáng nhiễm khuẩn đã nhận thấy những vi khuẩn gây nhiễm
sau đây :
Gram dương : Tụ cầu khuẩn vàng (20%), tụ cầu khuẩn coagulase âm tính (khoảng
10%), cầu khuẩn ruột (enterococci 3-5%), Streptococus pneumoniae và liên
cầu khuẩn bêta-dung huyết là thông thường nhất.
Gram âm : Serratia sp., Salmonella sp., Proteus sp., Pseudomonas sp.,
(3-5%), Cirobacter sp., Escherichia Coli (23-28%), và Klebsiella sp. (3-5%).
Vi khuẩn kỵ khí (3-4%) : Candida sp. và nấm (1-3%), siêu vi trùng (<1%).
Mặc dầu những dữ kiện như thế là hữu ích để hiểu những khuynh hướng chung,
mỗi đơn vị bệnh viện hay ICU có thể thay đổi căn cứ trên quần thể bệnh
nhân trong cộng đồng, các giống đề kháng tại địa phương.
6/ NHỮNG NGUỒN NHIỄM TRÙNG NÀO
THÔNG THƯỜNG NHẤT ?
Phổi (36%), máu (20%), bụng (19%), đường tiểu (13%), da (7%), khác (5%).
7/ NHỮNG GÌ CÓ THỂ ĐƯỢC THỰC HIỆN
ĐỂ KIỂM SOÁT NGUỒN NHIỄM TRÙNG VÀ NGĂN NGỪA NHIỄM TRÙNG BỆNH VIỆN ?
Nhiều biện pháp có thể được thực hiện để hạn chế sự lan tràn và mức độ
nghiêm trọng của nhiễm trùng và để ngăn ngừa nhiễm trùng mới nơi bệnh
nhân sepsis hay bệnh nặng. Kiểm soát nguồn nhiễm trùng (source control)
bao gồm dẫn lưu ngoại khoa các vết thương, dẫn lưu một áp xe hay tràn
mủ màng phổi (empyema), chăm sóc các điểm đè ép (pressure points) và các
vết loét, và những thận trọng thích đáng lúc tiếp xúc (ngay cả ống nghe
và các bíp cá nhân đã có can dự vào như là nguồn của các vi khuẩn sinh
bệnh). Ngoài ra, liệu pháp kháng sinh, được bắt đầu một cách thường nghiệm
và nhanh chóng và sau đó tập trung vào các nhạy cảm thích hợp, là cứu
mạng sống và ngăn ngừa sự đề kháng kháng sinh. Những biện pháp khác bao
gồm sự xử lý thích đáng máy hô hấp, dinh dưỡng bằng đường ruột, dự phòng
dạ dày-ruột và xử trí ống thông bàng quang giữ tại chỗ.
8/ CÁC ĐƯỜNG TRUNG TÂM (CENTRAL
LINES) NÊN ĐƯỢC THAY ĐỔI THEO NHỊP ĐỘ NÀO NƠI NHỮNG BỆNH NHÂN SEPSIS ?
Những khuyến nghị của Hiệp Hội Bệnh Nhiễm trùng của Hoa Kỳ đối với các
catheter tĩnh mạch trung tâm qua da (percutaneous CVCs) nhấn mạnh (1)
bệnh cảnh lâm sàng của bệnh nhân đối với quá trình nhiễm trùng và (2)
các kết quả cấy từ những vị trí ngoại biên và/hoặc đường trung tâm (central
line).
- Nếu bệnh nhân với một CVC bị sốt hay những triệu chứng/dấu hiệu của
một nhiễm trùng hay không có nơi nhiễm trùng khác rõ rệt, hãy thay đường
trung tâm qua guidewire và cấy máu catheter ngoại biên qua da và catheter
trung tâm.
- Nếu một nguồn nhiễm trùng khác có thể giải thích bệnh cảnh lâm sàng,
khi đó catheter vẫn nên được giữ tại chỗ.
- Nếu các cấy máu âm tính, những bệnh nhân không có nơi nhiễm trùng khác
giải thích bệnh cảnh lâm sàng hay bệnh nhân suy sụp nhanh chóng hay ở
trong tình trạng suy giảm miễn dịch, hãy đưa nào một đường mới ở một nơi
mới và lấy đi đường bị nghi ngờ. Sự tìm kiếm những nguồn nhiễm trùng khác
nên được tiếp tục. Quyết định điều trị che chở bằng kháng sinh (emperical
antibiotic coverage) nên được căn cứ trên bệnh cảnh lâm sàng, và những
trung tâm và những nước khác nhau có những ngưỡng (thresholds) khác nhau
để sử dụng chúng. Các kháng sinh thử nghiệm (emperical antibiotics) có
thể được sử dụng nơi những bệnh nhân với một bệnh cảnh lâm sàng trở nặng,
nhưng một hiệu chính sâu hơn đối với septic emboli, viêm nội tâm mạc,
và/hoặc viêm xương tủy cũng nên được xét đến.
- Nếu các kết quả cấy máu dương tính, một vị trí mới để đặt đường trung
tâm là cần thiết. Nhiễm trùng nên được điều trị một cách thường nghiệm
(trong 10 đến 14 ngày) và sau đó được thích ứng khi có được các kết quả
kháng sinh đồ.
- nếu một nhiễm trùng bị biến chứng (ví dụ tụ cầu khuẩn vàng, Candiada
sp., hay đa vi khuẩn) có thể cần hiệu chính thêm nữa hay điều trị che
chở lâu dài bằng kháng sinh (6 đến 8 tuần) để ngăn ngừa những di chứng
của vi khuẩn huyết (bacteremia) (viêm nội tâm mạc, viêm tĩnh mạch nhiễm
trùng hay huyết khoi, và viêm xương tủy)
9/ BÀN VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC CATHETER
ĐƯỢC BỌC KHÁNG SINH
Các catheter tĩnh mạch trung tâm được ngấm bởi một phối hợp chlorhexidine
và sulfadiazine bạc hay minocycline và rifampicin có vẻ hữu hiệu trong
sự làm giảm bớt tỷ lệ định cư vi khuẩn ở catheter và nhiễm trùng theo
đường máu do catheter nơi những bệnh nhân có nguy cơ cao. Một thử nghiệm
mới đây về hai phối hợp đã báo cáo rằng các catheter với minocycline và
rifampin có ưu thế hơn trong sự làm giảm các nhiễm trùng.
10/ VIỆC XỬ TRÍ KHÁC NHAU THẾ NÀO
NƠI NHỮNG BỆNH NHÂN BỊ SUY GIẢM MIỄN DỊCH VỚI NEUTROGENIC SEPSIS ?
1. Có thể có một sự tiến triển khuếch tán hơn hay nhanh hơn của nhiễm
trùng. Cần có sự nghi ngờ nơi những bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính
(neutrogenic) bởi vì những bệnh nhân này không có thể có một đáp ứng sốt
bình thường hay tăng bạch cầu.
2. Nên nghi ngờ cao hơn đối với nhiễm trùng nấm và virus. Điều trị thử
nghiệm nên bao gồm các thuốc kháng khuẩn có kháng khuẩn phổ rộng, kháng
virus, và kháng nấm.
11/ NHỮNG DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG
LÂM SÀNG NÀO KHIẾN NGHI NGỜ SIRS, SEPSIS, VÀ LOẠN NĂNG CƠ QUAN ?
Hô hấp : xanh tía, nhịp thở nhanh (tachypnea), khó thở nằm (orthpnea),
tăng tiết đờm (vàng hay lục, có bọt), giảm oxy-huyết (Pa02/Fi02< 300),
độ bảo hòa oxy <90%
Tim mạch : đau ngực, phù phổi, loạn nhịp tim, cần thuốc tăng áp (pressor),
chỉ số tim (cardiac index) < 2,5, tần số tim > 100 /phút, sức cản
mạch máu toàn thân giảm, lưu lượng tim tăng.
Thận : lưu lượng nước tiểu < 0,5 ml/kg/giờ, BUN tăng, creatinine tăng,
suy thận cấp, nhiễm toan (acidosis), thiếu hụt base tăng, nhiễm toan chuyển
hóa (metabolic acidosis) (thường là lactate).
Gan : gia tăng SGOT, SGPT, hay gamma GT, thời gian chảy máu kéo dài ;
asterixis ; bệnh não ; bilirubin tăng cao.
Miễn dịch : sốt > 38 độ C hay hạ thân nhiệt, ớn lạnh, đếm bạch cầu
tăng cao hay chuyển trái, giảm bạch cầu trung tính.
Huyết học : yếu ớt, xanh tái, capillary refill tồi, dễ bầm tím, xuất huyết
ngẫu nhiên, thiếu máu, prothrombin hay partial thromboplastin time gia
tăng, giảm fibrinogen, đông máu rải rác trong lòng mạch (D-dimers tăng
cao).
Dạ dày-ruột : chán ăn, liệt ruột (ileus), không chịu được cho ăn bằng
ống thông, nôn, mửa, giảm albumine-huyết.
Nội tiết : tăng glucose-huyết, giảm glucose-huyết, suy thượng thận, mất
cân.
Thần kinh : yếu người, lú lẫn, mê sảng, loạn tâm thần, co giật.
12/ NHỮNG MỤC TIÊU HUYẾT ĐỘNG NÀO
ĐỂ HỐI SỨC BỆNH NHÂN BỊ SEPSIS NẶNG HAY CHOÁNG NHIỄM KHUẨN ?
Các mục tiêu huyết động (hemodynamic goals) thường được sử dụng nhất bao
gồm sau đây :
- Áp lực thông máu (perfusion pressure) (áp lực động mạch trung bình :
MAP > 65 mmHg).
- Áp lực tĩnh mạch trung tâm : 8-13 mmHg.
- Chỉ số tim (cardiac index) > 2,5 L/phut/m2.
- PAOP (pulmonary artery occlusion pressure) : 12-19 mm Hg
- Lưu lượng nước tiểu > 0,5 ml/kg/giờ.
13/ DỊCH TRUYỀN, THUỐC TĂNG ÁP, VÀ CÁC SẢN PHẨM MÁU NÀO NÊN ĐƯỢC SỬ DỤNG
ĐỂ ĐÁP ỨNG VỚI NHỮNG MỤC TIÊU NÀY ?
1. Liệu pháp ban đầu quan trọng nhất là hồi sức dịch sớm và đầy đủ.
Không có dữ kiện cho thấy một sự cải thiện tỷ lệ tử vong với sự sử dụng
colloids so với crytalloids.
2. Nếu bệnh nhân được hồi sức dịch vẫn còn hạ huyết áp, điều trị thuốc
tăng áp (pressor therapy) nên được khởi đầu để đạt một MAP 60-65 mmHg.
Một công trình nghiên cứu mới đây đã báo cáo sự cải thiện đáng kể những
tỷ lệ tử vong khi norepinephrine được sử dụng thay vì dopamine với liều
lượng cao nơi những bệnh nhân với choáng nhiễm khuẩn ; do đó norepinephrine
có lẽ là thuốc tăng áp được chọn lựa. Không có dữ kiện nào cho thấy rằng
dopamine (với liều lượng cao hay thấp) mang lại tác dụng bảo vệ thận hay
cải thiện tỷ lệ tử vong. Vasopressin được chấp thuận bởi FDA chỉ để sử
dụng trong algorithm ACLS và hiện nay không có vai trò trong điều trị
choáng nhiễm khuẩn. Vài bệnh nhân có thể đòi hỏi thêm dobutamine nếu lưu
lượng tim là rất thấp.
3. Các thử nghiệm nhiều trung tâm đã cho thấy rằng tiên lượng không xấu
hơn nơi những bệnh nhân với những nồng độ hemoglobin 7 đến 9 g/dl, so
với những bệnh nhân được truyền máu để giữ các nồng độ hemoglobin giữa
10 và 12 g/dl. Ngoại lệ đối với những khuyến nghị này nơi những bệnh nhân
với bệnh động mạch vành ; ở những bệnh nhân này một nồng độ hemoglobin
tối ưu có lẽ gần 10 g/dL.
14/ BÀN VỀ NHỮNG MỤC TIÊU CỦA OXYGENATION
NƠI NHỮNG BỆNH NHÂN VỚI SEPSIS
Phần lớn bằng cớ từ nhiều công trình nghiên cứu gợi ý rằng sự vận chuyển
(oxygen delivery) hơn bình thường với inotrope không cải thiện cũng không
làm xấu đi tiên lượng. Một thử nghiệm mới đây báo cáo sự cải thiện đáng
kể khi cố đạt một cân bằng giữa cung và cầu, đuợc xác định bởi độ bảo
hòa oxy tĩnh mạch trung ương (central venous oxygen saturation). Các mục
tiêu đối với oxygenation gồm có độ bảo hòa oxy tĩnh mạch trung ương >
70% và độ bảo hòa oxy động mạch >90%. Các nhà nghiên cứu đã truyền
máu để đạt một hematocrit không cao hơn > 30% và hỗ trợ bằng thuốc
tăng áp để đạt một chỉ số tim (cardiac index) 2,5 L/phút/m2 với dobutamine
và dopamine liều thấp. Liệu pháp này được bắt đầu khi bệnh nhân đến phòng
cấp cứu, trong khi hầu hết các trung tâm bắt đầu điều trị huyết động tích
cực sau khi bệnh nhân vào ICU. Công trình nghiên cứu này và những công
trình khác có thể đặt ra những câu hỏi mới về sự lựa chọn thuốc tăng áp
và hematocrit tối ưu đối với những bệnh nhân sepsis.
15/ MỘT CATHETER ĐỘNG MẠCH PHỐI
CÓ NÊN ĐƯỢC SỬ DỤNG NƠI NHỮNG BỆNH NHÂN VỚI SEPSIS ?
Vẫn còn được bàn cãi. Những phân tích meta mới đây không nhận thấy một
sự gia tăng hay giảm tỷ lệ tử vong liên kết với việc sử dụng các catheter
động mạch phổi. Những bệnh nhân với choáng nhiễm khuẩn, lưu lượng tim
được dự kiến là cao và sức cản mạch máu toàn thân được dự kiến là thấp.
Hầu hết các nhà lâm sàng và các trung tâm sử dụng catheter động mạch phổi
để theo dõi một khuynh hướng đặc hiệu (độ bảo hòa oxy tĩnh mạch trộn hay
sự tương quan của wedge pressure với chỉ số tim hay xuất lượng nước tiểu)
hay để trả lời câu hỏi đặc hiệu :
- Bệnh nhân có bị loạn năng có tim bên trái hay không ?
- Bệnh nhân có bị suy thận hay một đáp ứng bất thường đối với một fluid
challenge hay không ?
- Bệnh nhân có bị suy tim phải hay tăng áp động mạch phổi hay không ?
Nên ghi nhớ rằng catheter động mạch chỉ là một monitor, chứ không phải
là một điều trị. Nếu không có thể có lợi ích đáng kể được mang lại từ
catheter, bệnh nhân bị các nguy cơ do thông catheter vì những lý do không
đúng đắn.
16/ NHỮNG GUIDELINE ĐỂ XỬ TRÍ HÔ
HẤP NÀO CÓ THẾ CẢI THIỆN TIÊN LƯỢNG NƠI CÁC BỆNH NHÂN SEPSIS ?
Phổi là hệ cơ quan quan trọng nhất bị suy nơi những bệnh nhân sepsis,
nhiều người trong số những bệnh nhân này nhiên hậu cần đến thông khí cơ
học. Phổi là nguồn nhiễm trùng ban đầu khả dĩ nhất, và bệnh nhân có nguy
cơ lớn bị viêm phổi bệnh viện (nosocomial pneumonia) hay viêm phổi gây
nên bởi máy thở (ventilator associated pneumonia). Vệ sinh phổi và chú
ý nghiêm chỉnh vào sự điều trị viêm phổi, tràn dịch màng phổi, tràn mủ
màng phổi, và những bệnh phổi khác là thiết yếu để cải thiện tiên lượng.
Các định nghĩa và các guideline mới đây để xử trí thương tổn phổi cấp
tính (ALI : acute lung injury) và hội chứng suy kiệt hô hấp cấp tính (ARDS
: acute respiratory distress syndrome) đã có một ảnh hưởng đáng kể lên
việc nhận diện những bệnh nhân với những rối loạn này. Chẩn đoán ALI và
ARDS được căn cứ trên những tiêu chuẩn sau đây : các thâm nhiễm xảy ra
hai bên (bilateral infiltrates), Pa02/Fi02 <300 (ALI) hay < 200
(ARDS), và không có bằng cớ của một nguyên nhân do tim (ví dụ tăng áp
tâm nhĩ trái) đối với suy hô hấp. Chấn thương do thể tích (volutrauma)
gây nên bởi thể tích sinh hoạt (tidal volume) lớn không những đưa đến
sự phóng thích các chất trung gian viêm (thí dụ IL-6), có thể gây nên
đáp ứng sepsis nhưng cũng cho phép chuyển vị (translocation) vi khuẩn
qua các màng phế nang bị thương tổn. ARDS Network (một tổ chức nhiều trung
tâm nhằm điều trị ARDS) đã xác định một chiến lược thông khí bảo vệ (a
protective ventilation strategy), dựa trên các thể tích sinh hoạt thấp
hơn và sử dụng PEEP (positive end-expiratory pressure : áp lực dương cuối
thời kỳ thở ra), làm giảm một cách đáng kể tỷ lệ tử vong của những bệnh
nhân với ARDS. Theo công trình nghiên cứu của họ, các bệnh nhân với ALI
hay ARDS nên được thông khí với một thể tích sinh hoạt 6ml/kg thể trọng.
Một kỹ thuật khác để làm giảm số ngày phải dùng máy thở (ventilator) và
tỷ lệ viêm phổi và sepsis là thử cho thở tự nhiên mỗi ngày (đối lại với
hỗ trợ thông khí hay thông khí cách quãng) để cai bệnh nhân khỏi bị phụ
thuộc máy thở. Gần như tất cả các bệnh nhân với suy hô hấp nên có những
lần thử như thế ; nếu những lần thử này thành công bệnh nhân nên được
rút ống nội khí quản.
17/ NHỮNG GUIDELINE ĐỐI VỚI DINH
DƯỠNG VÀ XỬ TRÍ DẠ DÀY-RUỘT NÀO CẦN ĐƯỢC GHI NHỚ ?
Nhiều trong số các khuyến nghị đối với dinh dưỡng và dự phòng dạ dày-ruột
nơi các bệnh nhân ở ICU cũng áp dụng cho những bệnh nhân sepsis. Các bệnh
nhân sepsis ở trong một trạng thái tăng dị hóa (hypercatabolic state)
và thường có khó khăn trong việc sử dụng các dự trữ glucose. Ngoài ra,
vài trường hợp sepsis gây nên một liệt ruột (ileus), lại được làm gia
tăng do sử dụng các thuốc an thần và các narcotic. Nuôi dưỡng bằng đường
ruột cải thiện tình trạng dinh dưỡng và miễn dịch, so với bắt nhịn đói
hay nuôi dưỡng hoàn toàn bằng đường ngoài ruột (total parenteral nutrition).
Một ống nuôi ăn (feeding tube) nên được sử dụng sớm trong thời gian bệnh
nhân được đưa vào ICU. Những công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy
một nguy cơ thấp hơn đối với hít dịch (aspiration) và một tỷ lệ thấp hơn
mắc phải viêm phổi và viêm xoang khi cho ăn qua hổng tràng (jejunal feedings)
(so với đặt ống nuôi ăn dạ dày) và giảm đặt ống thông mũi-dạ dày. Để làm
giảm tỷ lệ mắc phải loét do stress (stress ulceration), xuất huyết dạ
dày-ruột, và chuyển vị vi khuẩn (bacterial translocation), H2 blocker,
proton pump inhibitor, và sucralfate (một mình hay phối hợp) bây giờ là
những điều trị thông thường nơi những bệnh nhân ICU, mặc dầu tác nhân
tối ưu không được biết đến.
18/ BÀN VỀ NGĂN NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ
HUYẾT KHỐI-NGHẼN TĨNH MẠCH (VENOUS THROMBOEMBOLISM)
Sự tương tác của các đường viêm, đông máu, và tan sợi huyết trong sepsis
dẫn đến huyết khối (thrombosis) (huyết khối tĩnh mạch sâu, nghẽn mạch
phổi, đông máu rải rác trong lòng mạch). Khi nào có thể được, phòng ngừa
nên bao gồm tiêm héparine dưới da, compression stocking, hay sử dụng lọc
tĩnh mạch chủ dưới (ICV filter). Một mức độ nghi ngờ cao quá trình sinh
huyết khối là thiết yếu để cải thiện điều trị bệnh nhân.
19/ NHỮNG LIỆU PHÁP MỚI NÀO
ĐÃ XUẤT HIỆN ? CÓ NHỮNG LIỆU PHÁP NHẰM VÀO ĐÔNG MÁU ĐÃ TỎ RA HỮU ÍCH KHÔNG
?
Activated protein C (APC) là chất chống đông phụ thuộc vitamin K, được
hoạt hóa bởi phức hợp thrombin và thrombomodulin. APC làm bất hoạt các
yếu tố đông máu Va và VIIIa (với sự giúp đỡ của protein S) trong chuỗi
dây chuyền đông máu (coagulation cascade), làm giảm plasmin-activating
inhibitor 1 để làm gia tăng sự tan sợi huyết (fibrinolysis), và làm giảm
TNF alpha (tumor necrosis factor alpha) và sự dính kết nội mô của các
tiểu cầu trong các đường viêm. Các nồng độ protein C và S được nhận thấy
bị giảm trong sepsis, và sự thiếu hụt của APC đã được nhận thấy tương
quan với mức độ nghiêm trọng của hội chứng sepsis. Một công trình nghiên
cứu rộng rãi mới đây về sự sử dụng APC nơi những bệnh nhân với sepsis
nặng và choáng nhiễm khuẩn chứng minh một sự giảm đáng kể các cytokine
viêm, D-dimer, và các tỷ lệ tử vong. APC mới đây đã được chấp thuận bởi
FDA để sử dụng trong lâm sàng. Những tác dụng phụ đáng kể gồm có một tỷ
lệ 3-5% bị xuất huyết do những tác dụng giống kháng đông (anticoagulant-like
effects).
Tissue factor pathway inhibitor (TFPI) và antithrombin III đã cho thấy
hứa hẹn trong những thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II như là những chiến
lược để điều biến đường đông máu (coagulation pathway) nhưng đã không
thành công trong những thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn giai đoạn III.
Continuos venovenous hemofiltration (CVVH) đã được xem như là một chiến
lược để loại bỏ các yếu tố huyết thanh có hại đối các bệnh nhân bị sepsis.
Hiện nay, những khuyến nghị sử dụng thẩm tích máu (hemodialysis) và CVVH
đã không được mở rộng để bao gồm sepsis, và cả hai đều có những nguy cơ
và những tác dụng phụ. Tuy nhiên CVVH hữu ích để điều trị suy thận trong
những bệnh nhân bị hạ huyết áp với choáng nhiễm khuẩn.
20/ TẠI SAO LIỆU PHÁP NHẰM NỐI
KẾT VỚI CÁC CHẤT TRUNG GIAN VIÊM ĐÃ KHÔNG THÀNH CÔNG ?
Nhiều sản phẩm đã được thử để phong bế hay làm gia tăng nhiều trong số
các cytokine làm dễ và kháng viêm (pro-and antiinflammatory) có liên quan
trong sepsis. Đến nay, không có sản phẩm nào đã thành công làm giảm tỷ
lệ tử vong nếu được cho sau khi bị nhiễm trùng, mặc dầu vài chất đã cho
thấy những kết quả dương tính nếu được cho trước khi một tác nhân gây
nhiễm được biết ở phòng xét nghiệm. Hiện nay có hai nhận thức của vấn
đề cơ bản: (1) quá trình viêm có thể quá phức tạp để có thể kiểm soát
được bởi một thuốc kháng viêm duy nhất, và (2) sự hiện diện của tất cả
các cytokine lưu thông trong máu và hoạt động, ở một mức độ nào đó, có
thể quan trọng đối với hệ miễn dịch.
21/ STEROIDS CÓ MỘT VAI TRÒ TRONG
ĐIỀU TRỊ SEPSIS KHÔNG ?
Những công trình nghiên cứu khác nhau đã đánh giá vai trò của steroids
và những liệu pháp làm suy giảm miễn dịch khác trong điều trị sepsis.
Cho đến nay, ít dữ kiện chỉ rõ một lợi ích đáng kể do sử dụng steroids.
Hầu hết các nhóm được khảo sát đã không đủ tầm cỡ để xác nhận những báo
cáo về những hiệu quả có lợi. Một thiểu số đáng kể các bệnh nhân sepsis,
đề kháng với sự sử dụng các thuốc tăng áp mạch bởi vì suy thượng thận,
có thể có lợi do sử dụng steroids, nếu các bệnh nhân này có thể được nhận
diện để điều trị. Sự mô tả cổ điển là một bệnh nhân có huyết động bất
ổn, đề kháng voi tất các các thuốc tăng áp mạch. Những bệnh nhân này cho
thấy một đáp ứng mang lại ổn định rõ rệt khi được cho steroids.
References : Critical Care Secrets.
BS NGUYỄN VĂN THỊNH, Chuyên Khoa Nội
Thương và Cấp Cứu
(25/8/2010)
TAGS: Hội chứng nhiễm khuẩn (Sepis syndrome),
Severe sepis, Septic Shock, Systemic inflammatory response syndrome, Sepsis
syndrome, TNF alpha (tumor necrosis factor alpha), Interleukin (IL)-6,
IL-8, Chuỗi dây chuyền viêm (inflammatory cascade), Hóa ứng động (chemotaxis)
Bạch cầu, Tế bào mono, Đại thực bào, Kháng viêm IL-4, IL-10, Prostaglandin,
Gram dương : Tụ cầu khuẩn vàng, Tụ cầu khuẩn coagulase âm tính, cầu khuẩn
ruột, Streptococus pneumoniae, Cầu khuẩn bêta-dung huyết là thông thường
nhất, Gram âm : Serratia sp., Salmonella sp., Proteus sp., Pseudomonas
sp., Cirobacter sp., Escherichia Coli, và Klebsiella, Vi khuẩn kỵ khí
: Candida, Nấm, Siêu vi trùng, Phổi, Máu, Bụng, Đường tiểu, Da, Catheters
bọc kháng sinh, thương tổn phổi cấp tính (ALI : acute lung injury), Huyết
khối nghẽn tĩnh mạch (Venous thromboembolism), Activated protein C (APC),
Chuỗi dây chuyền đông máu (coagulation cascade), Plasmin-activating inhibitor
1, Tan sợi huyết (fibrinolysis), Steroids, Nguyen Van Thinh
>>>back>>>
|
 |