 |
Suy
Thận Cấp
Bác sĩ Nguyễn văn Đích
Suy
thận cấp là một hội chứng do nhiều
nguyên nhân khác nhau, thường gặp trong hồi sinh
cấp cứu. Gọi là suy thận câp khi creatinine trong
huyết thanh tăng 50% hoặc lọc cầu thận
giảm 50% so với trị số cơ bản (baseline).
I.-
Nguyên nhân và Sinh lý bệnh.-
Ta thường xếp các nguyên nhân gây suy thận cấp
vào ba nhóm: suy thận trước thận, tại thận
và sau thận.
*
Suy thận cấp trước thận.- Các nguyên
nhân giảm thể tích máu nội mạch làm giảm
tưới máu thận như sốt cao, nôn mửa,
tiêu chảy, thiếu nước do mọi nguyên nhân.
Trong tình trạng sinh lý bình thường, khi thể tích
lưu thông giảm, các thụ thể cảm áp (baroreptors)
ở xoang động mạch cảnh và ở tim được
họat hóa làm tăng họat động của hệ
thần kinh giao cảm, hệ thống renin-angiotensin-aldosterone
và tiết argininevasopressine (AVP-trước đây gọi
là antidiuretic hormone) mà hậu quả là co mạch ở
những vùng không chủ yếu để bảo vệ
các bộ phận chủ yếu là tim và não. Khi tưới
máu thận giảm, cơ chế tự điều
chỉnh (autoregulation) của thận cùng với prostaglandins
và prostacyclin làm giãn động mạch tới vi cầu
(afferent arterioles). Trong khi đó angiotensin II làm co động
mạch rời vi cầu (efferent arterioles). Kết quả
là áp suất trong cầu thận được duy trì
do đó duy trì lọc cầu thận. Cơ chế tự
điều chỉnh có tác dụng tối đa khi áp
huyết động mạch trung bình (mean arterial blood
pressure) ở vào khoảng 80 mmHg, khi áp huyết hạ
dưới mức này cơ chế tự điều
chỉnh không còn hữu hiệu nên lọc cầu thận
giảm, gây ra suy thận trước thận. Những
người lớn tuổi và những người
có bệnh mạch máu như xơ vữa động
mạch, tiểu đường, nhậy cảm với
tình trạng hạ huyết áp hơn người thường.
Một số thuốc cản trở sự vận
hành của cơ chế tự điều chỉnh
tuần hoàn trong cầu thận như các thuốc ức
chế sự tổng hợp prostaglandin (thuốc chống
viêm không steroid) hoặc ức chế men chuyển và
ức chế thụ thể angiotensin II tăng nguy cơ
suy thận ở người mà tưới máu thận
giảm.
*
Suy thận cấp tại thận.- Nhiều bệnh
tổng quát gây tổn thương tại thận làm
giảm lọc cầu thận. Các tổn thương
có thể ở ống thận, cầu thận, mô kẽ,
và mạch máu thận. Tổn thương ống thận
thường do thiếu máu cục bộ (ischemia) hoặc
do chất độc với thận. Thiếu máu cục
bộ có thể do xuất huyết, trụy mạch,
sốc nhiễm trùng. Chất độc với thận
có thể là hóa chất, kháng sinh như aminoglycosides, acyclovir,
chất cản quang hoặc chất độc nội
sinh như hemoglobin và myoglobin. Nếu tưới máu thận
tiếp tục giảm các tế bào ống thận
sẽ bị hoại tử làm cho suy thận cấp
trước thận có tính chất cơ năng trở
thành suy thận cấp có tổn thuơng cơ thể
gọi là hoại tử ống thận cấp. Họai
tử ống thận cấp tiến triển qua ba
giai đọan: giai đọan khởi đầu,
giai đoạn duy trì và giai đọan phục hồi.
Sau biến cố đầu tiên gây tổn thương
ở thận, lọc cầu thận giảm trong một
đến hai tuần sau đó dần dần hồi
phục. Hiện nay chưa có cách nào làm cho thận phục
hồi nhanh hơn do đó cần ngăn ngừa hoại
tử ống thận cấp như hồi sức tích
cực, tránh các chất độc với thận Viêm
cầu thận cấp thường có biểu hiện
tổng quát như sốt, nổi ban, đau khớp,
do nhiễm liên cầu trùng hoặc hồng ban đỏ
(lupus erythrematosus) hoặc các bệnh hệ thống
khác. Bệnh nhân thường tiểu ra máu, trong nước
tiểu có trụ hồng cầu, và chất đạm
(protein). Viêm mô kẽ cũng có thể gây suy thận
cấp. Viêm thận kẽ cấp có thể do dị
ứng với thuốc, bệnh nhiễm trùng, bệnh
thâm nhiễm (infiltrative diseases). Triệu chứng của
viêm thận kẽ có thể gồm sốt, nổi ban,
tế bào ái toan tăng trong máu và nước tiểu….
Các bệnh mạch máu gồm cả mạch máu nhỏ
và mạch máu lớn. Các bệnh mạch máu nhỏ thường
thể hiện bằng thiếu máu tán huyết do bệnh
vi mạch và suy thận cấp do nghẹt hoặc tắc
các mạch máu nhỏ. Các bệnh mach máu lớn thường
sẩy ra ở người lớn tuổi do hẹp
hoặc tắc động mạch thận, huyết
khối do rung nhĩ, hoặc bóc tách động mạch
chủ cấp tính (acute dissection).
*
Suy thận cấp sau thận.- Tắc nghẽn
hoặc chèn ép đường dẫn nước tiểu
cũng gây suy thận cấp. Các nguyên nhân có thể là
tiền liệt tuyến lớn, u bướu, hoặc
sạn…Cần tìm các nguyên nhân cơ học để
lọai bỏ hầu phục hồi chức năng
thận. Siêu âm là một phương tiện dễ
dùng, không độc hại giúp chẩn đoán sự
ứ nước tiểu do nguyên nhân cơ học.
II.-
Chẩn đoán.-
Hỏi bệnh sử giúp tìm nguyên nhân có thể gây suy
thận cấp, thăm khám lâm sàng tìm dấu hiệu
suy thận và nguyên nhân. Một số trường hợp
được phát hiện do theo dõi hàng ngày ở những
bệnh nhân nặng trong bệnh viện. Cần xét
nghiệm bổ túc để đánh giá tình trạng
và phân biệt chẩn đoán.
*
Nước tiểu lấy ở phòng cấp
cứu, trước khi truyền dịch hoặc cho
thuốc có giá trị chẩn đoán phân biệt. Nước
tiểu bình thường trong suy thận trước
thận, ngược lại thường có trụ
hạt nâu, tế bào biểu mô và trụ biểu mô trong
họai tử ống thận cấp. Tỉ trọng
nước tiểu trên 1.020 trong suy thận trước
thận, dưới 1.020 trong họai tử ống
thận. Lượng sodium thấp dưới 20 mEq/L
trong suy thận trước thận, cao trên 40 mEq/L trong
họai tử ống thận cấp. Phân suất thải
sodium (Fractional Excretion of Sodium–FE Na) là một chỉ dẫn
tốt để phân biệt suy thận trước
thận và suy thận do họai tử ống thận, FE Na dưới 1% trong suy thận
trước thận, trên 2% trong hoại tử ống
thận cấp. Osmolality của nước tiểu
dưới 450 mosmol/L trong họai tử ống thận,
cao trên 500 mosmol/L trong suy thận trước thận
phản ảnh tác dụng của kích thích tố kháng
lợi niệu (antidiuretic hormone-AVP) do tình trạng thiếu
thể tích trên ống thận bình thường. Thể
tích nước tiểu thấp trong suy thận trước
thận vì thận bình thường giữ lại nước
và sodium, ngược lại có thể thấp hoặc
bình thường trong hoại tử ống thận
cấp. Tỉ số Creatinine trong nước tiểu
và máu cao trên 40 trong suy thận trước thận vì
trong tình trạng thiếu nước ống thận
còn nguyên vẹn tái hấp thu nước nên creatinin tập
trung cao trong nước tiểu, ngược lại
tỉ số này thấp dưới 20 trong hoại tử
ống thận. Cần lưu ý rằng các chỉ số
trên không có giá trị khi bệnh nhân đã có bệnh
thận từ trước vì khả nặng cô đặc
nước tiểu vốn đã bị rối lọan.
Trong trường hợp này có thể thử truyền
một lượng dịch để theo dõi sự
đáp ứng nếu nghi ngờ bệnh nhân bị thiếu
nước.
*
Các dấu sinh học mới.- Lipocalin trung tính
liên hệ với gelatinase (Neutrophil gelatinase-associated lipocalin-NGAL)
có tác dụng bảo vệ và giúp sinh sản tế bào
ống thận thể hiện mạnh mẽ sau khi
thận bị thiếu máu cục bộ (renal ischemia).
Một nghiên cứu dựa trên 71 trẻ em đưoc
điều trị bằng tim-phổi nhân tạo (cardiopulmonary
bypass) cho thấy rằng nồng độ của NGAL
50µg/L trong nước tiểu 2 giờ sau điều
trị là chỉ dẫn của tổn thương
thận với độ nhậy 100%, độ chuyên
biệt 98%. Các dấu sinh học khác đã được
khảo sát là nồng độ Cystatin C trong hyết
thanh, Phân tử Tổn thương Thận-1 (Kidney Injury
Molecule-1, KIM-1) và interleukin-18.
III.-Xử
trí.-
Bệnh nhân cần được thăm khám toàn diện
và theo dõi sát về tri giác, hô hấp, tuần hoàn, sinh
hiệu, lượng nước xuất nhập, chức
năng thận và chất điện giải. Cần
tìm và điều trị nguyên nhân gây suy thận cấp.
Cần ổn định tình trạng tim mạch, cân
bằng nước và chất điện giải tránh
dùng các thuốc độc với thận. Dinh dưỡng
chủ yếu dựa vào carbohydrates, hàm lượng
đạm trong phần ăn cần được
quân bằng ở mức 0.6g/kg/ngày. Chỉ dùng sodium bicarbonate khi
có toan chuyển hóa nặng với pH dưới 7.2 hoặc
bicarbonate dưới 10-15 mEq/L. Potassium dưới 6 mEq/L
có thể kiểm soát được bằng cách điều
chỉnh chế độ ăn. Khi triệu chứng
và rối lọan điện giải không kiểm sóat
được bằng điều trị bảo tồn
cần lọc máu thay cho thận. Có thể lọc màng
bụng hay thận nhân tạo tùy từng trường
hợp và tùy điều kiện tại chỗ. Chỉ
định lọc máu thay cho thận gồm: toan huyết,
rối lọan điện giải không kiểm soát
được bằng thuốc, thể tích quá tải,
BUN trên 100mg/L, chảy máu, viêm màng ngoài tim, bệnh não.
IV.-
Một số thông tin mới.-
*
Tác dụng của acetylcysteine.- Các nghiên cứu chứng
tỏ rằng acetylcysteine 600 mg uống hai lần mỗi
ngày một ngày trước và trong ngày làm các thủ thuật
X quang với chất cản quang có thể giảm được
tỉ lệ phát bệnh (incidence) của suy thận
cấp
*Dopamine.-
Các nghiên cứu cho thấy rằng dopamine truyền tĩnh
mạch 2mcg/kg/phút không có tác dụng ngăn ngừa suy
thận cấp mà lại có thể gây rối lọan
nhịp tim.
*Lợi
tiểu tác dụng trên quai Henle.- Nghiên cứu cho thấy
lợi tiểu không có lợi mà lại làm tăng tỉ
lệ tử vong và làm chậm sự phục hồi
chức năng thận.
*Sodium bicarbonate.-
Một nghiên cứu dựa trên 119 bệnh nhân cho thấy
truyền dung dịch bicarbonate trước khi tiêm chất
cản quang giảm nguy cơ suy thận do chất cản
quang.
V.-
Dự hậu.-
Tỉ lệ tử vong chung của suy thận cấp
là 50%, không thay đổi đáng kể trong 30 năm
qua. Thông thường bệnh nhân không chết vì suy thận
cấp nhưng chết vì bệnh căn bản gây suy
thận. Tỉ lệ tử vong thay đổi tuy theo
nguyên nhân: 15% trong nhóm sản khoa, 30% trong nhóm nội khoa,
60% ở những bệnh suy thận do chấn thương
hoặc sau các giải phẫu lớn. Thiểu niệu
(nước tiểu dưới 400ml/ngày), creatinine trên
3mg/dl khi nhập viện là các chỉ dẫn xấu.
Tỉ lệ tử vong cao hơn ở người
lớn tuổi và có bệnh của nhiểu bộ phận.
Phần lớn bệnh nhân phục hồi đủ
chức năng thận để sống bình thường,
50 % có những thay đổi về chức năng
thận nhưng không có biểu hiện lâm sàng và 5 % không
hồi phục, cần tiếp tục điều trị
bằng lọc thận hoặc thay thận.
VI.- Phụ
chú:
Cách tính Áp huyết động mạch trung bình và Phân
suất thải Na
* Áp
huyết Động mạch Trung bình: xin coi Hỏi
Đáp Y Học, Y Dược Ngày Nay
* Cách tính
phân suất thải Na (FE Na): Trong tình trạng bình thường
Na và nước được lọc qua cầu thận
(ultrafiltrate) nhưng phần lớn nước và Na
lại được tái hấp thu ở ống thận,
chỉ một phần nhỏ (1%) Na được
thải ra nước tiểu. Lượng Na thải
ra nước tiểu bằng tích số của nồng
độ Na trong nước tiểu UNa với thể
tích nước tiểu V: (UNa x V).
Lượng
Na lọc qua cầu thận bằng tích số của
nồng độ Na trong máu PNa với lọc cầu
thận;
Lọc
cầu thận (độ thanh thải của creatinin)
là [UCr x V] / PCr,
Phân suất
thải Na FE Na, tỉ lệ bách phân = tích số của UNa x V chia cho
tích số của PNa với lọc cầu thận (UCr
x V)/PCr, X 100. Sau khi đơn giản, ta có:
: UNa
x PCr
FE
Na, tỉ lệ bách phân = -------------- X 100
PNa x UCr
*
Vi cầu thận, ống thận, động mạch
tới vi cầu, và động mạch rời vi cầu
(theo Wikipedia)
Tham khảo:
Barry H.R., Brenner B.M.: Acute Renal Failure, in Harrison’s Principles
of Internal Medicine, 16th ed., New York: McGraw-Hill, 2001;
Burton D. Rose: Diagnosis of Acute tubular Necrosis and Prerenal disease,
in Up to Date, vers. 15.3, 2007;
Needham E.: Management of Acute Renal Failure. Amer. Fam. Phys. 2005, 72:1739-1746
Ngày 25-12-2007
Bác sĩ Nguyễn Văn Đích
Xin tùy nghi sử dụng và phổ biến. Xin ghi rõ nguồn: www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |