 |
Sang
Thương Võng Mạc trong Sốt Rét Não
Bác sĩ Nguyễn văn
Đích
Sốt rét não là tình trang nặng của sốt rét do nhiễm Plasmodium
falciparum. Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng hôn mê mà 20% có thể tử
vong trong 24 giờ, với nồng độ hồng cầu nhiễm trên 2% kèm theo rối lọan
chuyển hóa và tổn thương của nhiều bộ phận khác. Khi phẫu nghiệm tử thi,
não bộ sưng phù, có thể thấy những đốm xuất huyết nhỏ. Trên kính hiển vi,
các mao mạch đầy nghẹt hồng huyết cầu bị nhiễm. Tỉ lệ hồng cầu nhiễm trong
máu ngoại biên không phản ánh đúng tỉ lệ hồng cầu thật sự bi nhiễm vì đa
só các hồng cầu bị nhiễm bị tách biệt (sequestration) trong các mao mạch
đặc biệt là ở não. Các hồng cầu bị ký sinh mất tính đàn hồi, không thể đi
qua các mao mạch một cách dễ dàng. Sự tách biệt là hậu quả của sự kết dính
(cytoadherence) của hồng cầu nhiễm với tế bào nội bì (endothelium). Sự tách
biệt càng tăng khi các hồng cầu nhiễm kết tụ với các hồng cầu nhiễm khác
(agglutination) và với các hồng cầu không nhiễm (rosetting). Sự kết dính
ký sinh trùng do một nhóm kháng nguyên biểu hiện ở bề mặt hồng cầu. Một
trong các chất đó là P. falciparum erythrocyte membrane protein-1 (PfEMP1).
PfEMP1 có thể nối kết với nhiều thụ thể trên tế bào nội bì, chủ yếu là CD36
và phân tử kết dính liên bào (intercellular adhesion molecule 1-ICAM1).
Sự kết dính của hồng cầu nhiễm với ICAM 1 được coi là cơ nguyên sinh bệnh
của sốt rét não.Thêm vào đó, hiện tượng viêm tiết ra nhiều cytokines, làm
rối lọan sự ngăn cách giữa mạch máu và mô não (blood brain barrier) làm
thoát dịch từ huyết quản ra ngoài thành mạch gây phù não.
Trong những năm gần đây nhiều tác giả đã mô tả các thay đổi ở đáy mắt trong
sốt rét não. Từ nhận định rằng võng mạc có cùng nguồn gốc với não vì là
phần phình (outpouching) của ống thần kinh (neural tube) phát triển từ mô
thần kinh-ngoại bì (neuroectodermal tissue), Valery A. White và csv đã khảo
sát mắt của các trẻ em tử vong vì sốt rét não ở Malawi để mô tả và phân
biệt sang thương võng mạc của các bệnh nhân hôn mê do sốt rét não với võng
mạch của các bệnh nhân hôn mê không do sốt rét não đồng thời cũng tìm hiểu
cơ chế bệnh sinh của sốt rét não. Các tác giả thấy các sang thương võng
mạc chuyên biệt, gồm hồng cầu bị ký sinh bị tách biệt khỏi dòng chẩy (sequestration),
nhiều mảng xuất huyết võng mạc nặng, phù hoàng điểm dạng cyst (cystoid macula
edema) và các cục máu đông fibrin-tiểu cầu. Xuất huyết võng mạc là dấu hiệu
dễ nhận thấy khi soi đáy mắt ngay cả với các bác sĩ không chuyên môn nhãn
khoa.
Võng mạc trong sốt rét não: nhiều vùng xuất huyết có tâm điểm trắng, hoàng
điểm trở nên trắng (đầu mũi tên) và mạch máu đổi màu cam (mũi tên).- Valerie
A. White & csv.
Xuất huyết có đốm trắng ở giữa do cục máu trong mạch máu ở giữa vùng xuất
huyết. Bear và csv chụp động mạch võng mạc với fluorescein cho thấy các
mạch máu bị tắc có màu trắng và các mao mạch không được tưới máu gây ra
các vùng trắng trên võng mạc.
Valerie và csv cho rằng cục máu động trong động mạch gây thiếu máu cục
bộ do đó gây thiếu oxy ở mô, tạo ra các vùng trắng. Các tác giả cũng chứng
tỏ phù não bằng cách chứng minh có fibrinogen thoát ra khỏi mạch máu ở
vùng có xuất huyết và chung quanh mạch máu ở vùng không có xuất huyết
do vách ngăn giữa máu và mô não bị phá hủy. Tổn thương axon (axonal damage)
cũng có thể do thiếu oxy vì tắc nghẽn hoàn toàn hay một phần của mạch
máu bởi hồng cầu bị ký sinh hoặc bởi cục máu đông fibrin-tiểu cầu.
Valerie và csv cho rằng các sang thuơng ở võng mạc giúp ta hiểu nguyên
nhân của bệnh võng mạc do sốt rét và vì sự tương đồng giữa võng mạc và
não, cũng giúp ta hiểu cơ chế gây ra hôn mê và tử vong của sốt rét não.
Ứng dụng thực tế của báo cáo này là bác sĩ lâm sàng có thể soi đáy mắt
để chẩn đóan phân biệt hôn mê do sốt rét não với hôn mê không do sốt rét
não vì ở vùng nội dịch (endemic) bệnh nhân có thể mang sẵn ký sinh trùng
sốt rét đồng thời bị hôn mê do một nguyên nhân khác.
Tham khảo:
White VA et al: Retinal Pathology of Pediatric Cerebral Malaria in Malawi,
PLoS ONE 4(1):4317.doi:10.1371/journal.pone.0004317;
Beare NA et al: Perfusion Abnormalities in Children with Cerebral Malaria
and Malarial Retinopathy, PMID: 18999956 [PubMed] Idro R et al: Pathogenesis,
Clinical Features, and Neurological Outcome of Cerebral Malaria, http://neurology.thelancet.com
Vol. 4 Dec 2005
Tôi rất biết ơn Valerie A White và
csv đã cho phép phổ biến tài liệu trên vì tinh thần khoa học và lòng nhân
đạo để giúp cho sự điều trị bệnh nhân. (Nguyễn
văn Đích)
Xin tùy nghi sử dụng và phổ biến bài viết
của Bs Nguyễn Văn Đích.
Xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |