 |
Kháng
Sinh Dự Phòng trong Phẫu Thuật
(Nhân câu hỏi của một dược sĩ lâm
sàng ở Việt nam)
Bác sĩ Nguyễn văn
Đích
Nhiễm trùng do phẫu thuật đứng thứ hai trong
các bệnh nhiễm trùng liên hệ với điều trị (healthcare-associated infection).
Coi là nhiễm trùng do phẫu thuật khi xảy ra trong 30 ngày sau phẫu thuật
không đặt dụng cụ cấy ghép (implant) hoặc trong 1 năm nếu có đặt dụng
cụ cấy ghép. Vi trùng sẵn có ở da hay niêm mạc gây nhiễm ở da, ở tạng
phủ hay ở xoang khi rào cản bảo vệ bị gián đọan do phẫu thuật hay thủ
thuật.
Ngăn ngừa nhiễm trùng là điều kiện cần thiết để phẫu thuật đạt kết quả
và bao gồm nhiều mặt trong tổ chức và điều hành bệnh viện từ trang bị,
huấn luyện, kiểm nhiễm đến áp dụng kỹ thuật vô trùng. Kháng sinh dự phòng
là một trong các biện pháp kể trên. Nghiên cứu cho thấy rằng nếu áp dụng
đúng, kháng sinh dự phòng có hiệu quả và an toàn.
Có chỉ định dùng kháng sinh dự phòng trong
các trường hợp nguy cơ bị nhiễm cao. Nguy cơ nhiễm trùng tùy thuộc vào
tình trạng của bệnh nhân và đặc tính của phẫu thuật. Các yếu tố liên hệ
với tình trạng của bệnh nhân gồm: đã có sẵn một ổ nhiễm, tiểu đường, hút
thuốc lá, đang điều trị bằng steroid, mập, cực kỳ lớn tuổi, thiếu dinh
dưỡng. Các nguy cơ liên hệ với phẫu thụât được xếp thành 4 loại.
Lọai 1 – Phẫu thuật sạch: đường mổ không
đi qua mô bị viêm, không liên hệ đến đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu
và sinh dục.
Lọai 2 – Phẫu thuật sạch-nhiễm: đường mổ
đi qua đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu sinh dục trong tình trạng được
kiểm soát và không có viêm nhiễm bất thường. Loại này gồm các phẫu thuật
liên hệ đến đường mật, ruột thừa, âm đạo, hầu-họng không bị nhiễm trùng.
Lọai 3 – Phẫu thuật nhiễm: xoa bóp tim sau
khi mở lồng ngực, thủng ống tiêu hóa, đường mổ đi qua vùng viêm.
Loại 4 – Phẫu thuật bẩn: vết thương cũ có
mô hoại tử, hoặc nhiễm trùng do thủng tạng rỗng, vi trùng gây nhiễm hậu
phẫu đã có mặt trước cuộc mổ.
Kháng sinh dự phòng chủ yếu là một sự điều
trị ngắn hạn bắt đầu ngay trước phẫu thuật, là một biện pháp trợ giúp
trong thời điểm đặc biệt để giảm bớt khối lượng vi trùng xâm nhiễm trong
thời gian phẫu thuật. Kháng sinh dự phòng không nhằm mục đích vô trùng
các mô và không ngăn ngừa nhiễm trùng do mắc phải trong thời gian sau
phẫu thuật.
Để đạt hiệu quả tối đa, cần tuân theo 4 nguyên tắc sau đây:
• Dùng kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật mà các nghiên cứu lâm
sàng đã chứng tỏ rằng kháng sinh dự phòng giảm nhiễm trùng hoặc biến chứng
nhiễm trùng có thể là một tai họa.
• Chọn loại kháng sinh an toàn, không đắt tiền, có tác dụng diệt khuẩn
và bao gồm những vi trùng có nhiều khả năng gây nhiễm nhất.
• Ấn định thời điểm bắt đầu tiêm liều kháng sinh đầu tiên để nồng độ diệt
khuẩn đạt mức cao nhất ở mô và trong huyết thanh vào lúc bắt đầu rạch
da.
• Duy trì nồng độ kháng sinh trong huyết thanh và ở mô trong suốt cuộc
mổ cho đến một vài giờ sau khi may da.
Phẫu thuật viên ước lượng trước đường mổ.
Có chỉ định dùng kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật liên hệ đến
tạng rỗng. Một số phẫu thuật sạch-nhiễm như cắt ruột già không khẩn cấp
cần được “chuẩn bị ruột già” bằng rửa ruôt và uống kháng sinh không hấp
thụ bằng đường ruột một ngày trước mổ.
Đôi khi cũng cần dùng kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật mà đường
mổ đi qua mô lành không đi qua tạng rỗng và không đi qua vùng nhiễm (loại
1) như đặt khớp giả và trong bất cứ phẫu thuật nào mà biến chứng nhiễm
trùng do phẫu thuật có thể trở thành một tai họa như trong các cuộc mổ
tim, đặt máy tạo nhịp, giải phẫu động mạch và giải phẫu thần kinh. Theo
định nghĩa, không coi là điều trị dự phòng trong các cuộc mổ loại 4 vì
trong các trường hợp này bệnh nhân đã được điều trị kháng sinh để ổn định
tình trạng nhiễm trùng trước mổ.
Các kháng sinh thuộc nhóm cephalosporin đã
được nghiên cứu sâu rộng nhất. Các thuốc này hữu hiệu đối với nhiều vi
trùng gram dương và gram âm, tỏ ra an toàn, có dược động lực thích hợp
và giá thành rẻ. Cefazolin đã được dùng rộng rãi và được coi là kháng
sinh dự phòng hàng đầu trong các phẫu thuật sạch. Nếu bệnh nhân bị dị
ứng với beta lactam, có thể thay thế bằng clindamycin hoặc vancomycin
để ngừa vi trùng gram dương. Đối với các phẫu thuật đường tiêu hóa cần
dùng cefoxitin (hoặc một cephalosporin thế hệ thứ 2) để ngừa vi trùng
kỵ khí. Nếu bệnh nhân dị ứng với beta lactam có thể chọn aztreonam kết
hợp với clindamycin hoặc metronidazole.
Aminoglycosides không phải là kháng sinh hàng sinh hàng đầu để dự phòng.
Cần dùng vancomycin khi có nguy cơ nhiễm tụ cầu kháng methicillin (MRSA),
không nên dùng vancomycin trong mọi trường hợp.
Các kháng sinh được dùng nhiều nhất để dự phòng (như cephalosporin) có
tác dụng diệt khuẩn tùy thụôc vào thời gian. Tác dụng dự phòng đạt mức
tối đa khi nồng độ kháng sinh trong máu luôn luôn vượt quá ngưỡng của
nồng độ diệt khuẩn tối thiểu đối với vi trùng. Khi phẫu thuật kéo dài
quá mức điều trị của kháng sinh, cần tiêm thêm một liều kế tiếp. Thời
gian để tiêm liều kế tiếp đối với cefazolin là 3 đến 4 giờ. Có thể ước
tính thời gian để tiêm liều thứ hai (hoặc thứ ba) của kháng sinh dự phòng
dựa vào 3 yếu tố: nồng độ kháng sinh ở mô đạt được ở một người bình thường,
thời gian bán hủy của thuốc, và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu MIC90 của
vi trùng mà ta muốn dự phòng. Thí dụ cần tiêm tĩnh mạch 1-2 g cefazolin
30 phút trước khi rạch da. Có ngoại lệ trong trường hợp mổ bắt con mà
cần kháng sinh dự phòng: cần tiêm liều đầu tiên ngay sau khi cột dây rốn.
Nếu dùng vancomycin, cần tiêm tĩnh mạch 1 giờ trước phẫu thuật. Nói chung
kháng sinh dự phòng phải được tiêm tĩnh mạch trong vòng 1 giờ trước phẫu
thuật và phải chấm dứt trong vòng 24 giờ sau phẫu thuật.
Sai lầm rong việc chọn lựa kháng sinh và liều lượng cũng như thời gian
sử dụng còn nhiều. Trong số 34.133 bệnh nhân được phẫu thuật ở Hoa kỳ,
chỉ có 56% được tiêm kháng sinh 1 giờ trước mổ và 41% được ngưng kháng
sinh 24 giờ sau mổ. Tiêm quá sớm hay quá trễ không đạt yêu cầu, tiếp tục
kháng sinh sau 24 giờ tăng nguy cơ kháng thuốc.
Điều trị kháng sinh dự phòng phải đi cùng với một
kế hoạch kiểm tra nhiễm trùng trong bệnh viện. Nghiện cứu cho thấy một
kế hoạch kiểm tra nhiễm trùng hữu hiệu giảm tỉ lệ nhiễm trùng phẫu thuật
41% đối với bệnh nhân có nguy cơ nhiễm thấp và 35% đối với bệnh nhân có
nguy cơ hiễm cao. Thêm vào đó, kiểm tra nhiễm trùng tích cực và báo cáo
tỉ lệ nhiễm trùng phẫu thuật định kỳ cho từng phẫu thuật viên, từng khu
vực điều trị và cho ban giám đốc góp phần làm giảm dần tỉ lệ nhiễm trùng
trong bệnh viện.
Phụ Bản Chọn lựa
Kháng Sinh Dự Phòng
| Phẫu Thuật |
Vi trùng thường gặp |
Kháng sinh |
Liều trước PT |
| Tim Mạch |
Staphylococcus aureus,
S. epidermidis |
cefazolin hoặc vancomycin |
1-2 g TM
1 g TM |
| Tiêu Hoá |
|
|
|
| Thực quản, dạ dầy, tá tràng |
trực trùng G âm
cấu trùng G dương |
có nguy cơ cao:
cefazolin |
1-2 g TM |
| Đường mật |
trực trùng G âm
Enterococci, clostridia |
có nguy cơ cao:
cefazolin |
1-2 g TM |
Đại tràng,
Trực tràng |
trực trùng G âm
enterococci, Anaerobes
|
cefotetan
hoặc cefoxitin
hoặc cefazolin
+ metronidazole
hoặc AMP-sulb |
1-2 g TM
1-2 g TM
1-2 g TM
0.5-1 gTM
3 g TM |
Cắt RTV
Chưa bể |
như trên |
cefoxitin, hoặc
cefotetan
hoặc cefazolin
+ metronidazole
|
1-2 g TM
1-2 g TM
1-2 g TM
0.5-1 g TM |
| Thủng tạng rỗng |
như trên |
cefoxitin
hoặc cefotetan
+ gentamycin
|
1-2 g TM
1-2 g TM
1.5 mg/kg TM |
Tiết niệu
sinh dục |
trực trùng G âm
enterococci |
nguy cơ cao:
ciprofloxacin |
500 mg (u) hoặc
400 mg TM |
| Sản Phụ |
|
|
|
| Cắt tử cung |
trực trùng G âm
Kỵ khí, B strep,
Enterococci |
cefotetan
cefoxitin
AMP-sulb
|
1-2 g TM
1-2 g TM
3 g TM |
| Mổ bắt con |
như trên |
cefazolin |
1-2 g TM |
| Phá thai |
như trên |
3 tháng đầu: PNC G
3 tháng giữa: cefazolin |
2 triệu dv TM
1-2 g TM |
| Đầu-Cổ |
|
|
|
| Mổ qua miệng họng |
kỵ khí, TT G âm,
S. aureus |
clindamycin +
gentamycin
hoặc cefozolin |
600-900 mg
1.5 mg TM
1-2 g TM |
Tài liệu tham khảo:
Guideline for Prevention of surgical Site Infection, 1999.
A.J. Mangram et al., The Hospital Infection Control Practices Advisory
Committee.
www.cdc.gov/hicpac/pubs.html.
Các tác giả của tài liệu này không giữ bản quyền.
Bác sĩ Nguyễn Văn Đích
>>>back>>>
|
 |