 |
Ứng
Dụng Lâm sàng của BNP và NT- proBNP
Bác sĩ Nguyễn văn
Đích
ProBNP là kích thích tố thải natri chủ yếu do tế bào cơ
tim tiết ra vì tác động của sức căng của thành cơ tim nên đã được dùng
để chẩn đoán suy tim. ProBNP được phân hóa thành BNP có tác dụng sinh
học và NT-proBNP không có tác dụng sinh học; nồng độ của cả hai chất đều
tăng trong suy tim nhưng nồng độ NT-proBNP tăng gấp bốn lần nồng độ BNP
trong rối loạn chức năng thất trái.
Dùng BNP hoặc NT-proBNP để chẩn đoán phân biệt các trường hợp khó thở
tại phòng cấp cứu giúp rút ngăn thời gian điều tri, đã chứng tỏ là có
hiêu quả kinh tế.
Nồng độ BNP và NT-pro-BNP giảm khi tình trạng suy tim cải thiện do đó
có thể dùng để theo dõi kết quả điều trị. BNP và NT-proBNP còn có thể
giúp phân lọai bệnh nhân về nguy cơ tim mạch và tiên lượng tử vong chung,
tử vong tim mạch, tai biến mạch não, tái cấu trúc thất trái, phản ứng
viêm. Giá trị nhiều mặt của BNP và NT-proBNP có thể vì ProBNP là hậu quả
của nhiều yếu tố khác ngoài sức căng của tế bào cơ tim như thiếu máu cơ
tim, endothelinA, angiotensin II, yếu tố hoại tử mô alpha.
BNP và NT-proBNP đã đáp ứng được các tiêu chuẩn của một dấu sinh học tốt:
cho kết quả cho nhanh chóng với giá phải chăng, cung cấp thêm dữ liệu
mới cho lâm sàng và giúp bác sĩ dựa vào đó mà quyết định chẩn đoán suy
tim.
Nồng độ của BNP trên 100pg/ml chẩn đoán suy tim với độ nhậy, độ chuyên
biệt và tiên lượng chính xác lần lượt là 90, 76 và 83%. Phần lớn bệnh
nhân khó thở do suy tim có BNP trên 400pg/ml trong khi trị số dưới 100pg/ml
loại trừ suy tim. Ở mức 100-400pg/ml BNP không đủ nhậy và chuyên biệt
để xác định hay loại trừ suy tim. NT-proBNP tăng theo tuổi, nên mốc chẩn
đoán suy tim cho lứa tuổi dưới 50, từ 50-75, trên 75 lần lượt là 450pg/ml,
900pg/ml, 1800pg/ml. Nồng độ NT-proBNP dưới 300pg/ml có khả năng lọai
bỏ chẩn đoán suy tim với giá trị tiên lượng âm 98%.
Nồng độ BNP và NT-proBNP tăng ỏ người suy thận, và giảm ở người mập. Phụ
nữ trên 45 tuổi có nồng độ NT-proBNP cao hơn đàn ông 50%.
Cũng như mọi xét nghiệm, BNP có một biên độ thay đổi nên không phải tất
cả các bệnh nhân suy tim đều có BNP cao và ngược lại không phải tất cả
các bệnh nhân không triệu chứng đều có BNP thấp.
Cần lưu ý các điểm sau đây khi dùng BNP để chẩn đoán suy tim:
- bệnh nhân khó thở có thể do nhiều nguyên nhân cùng một lúc thí dụ bệnh
nhân suy tim bị viêm phổi, BNP cao không loại bỏ khả năng một bệnh kết
hợp,
- BNP không đạt mức chẩn đoán ở một số bệnh nhân suy tim mất bù cấp tính,
- BNP tiếp tục cao ở một số bệnh nhân suy tim mãn dù đã được điều trị,
nên chỉ được coi là phụ giúp mà không thay thế sự lượng giá lâm sàng về
kết quả điều trị,
- BNP không giúp phân biệt suy tim tâm thu với suy tim tâm trương,
- BNP tăng ở bệnh nhân bị suy tim phải do tăng áp động mạch phổi nên khi
suy tim phải do bệnh phổi không do tăng áp động mạch phổi do suy tim trái
thì BNP cao có thể bị ngộ nhận là do suy tim trái trong khi bệnh nhân
khó thở vì bệnh phổi.
BNP và NT-proBNP có giá trị trong chẩn đoán suy tim, nhưng giá trị trong
theo dõi kết quả điều trị và phân tầng nguy cơ tim mạch còn được bàn cãi.
Các dấu sinh học đem lại sự chính xác và tính khách quan tuy nhiên không
thay thế sự suy luận lâm sàng. Sự ước lượng lâm sàng trước khi làm xét
nghiệm là cần thiết.
BNP có lợi khi chẩn đoán lâm sàng còn chưa rõ khi đó BNP dương giúp quyết
định chẩn đoán, BNP âm khiến phải tìm hiểu thêm. Trong trường hợp suy
tim hoặc nguyên nhân gây khó thở đã rõ ràng làm thêm BNP không có hiệu
quả kinh tế vì không đem lại thay đổi gì.
Bác sĩ Nguyễn
Văn Đích
Xin tùy nghi sử dụng và phổ biến bài viết
của Bs Nguyễn Văn Đích.
Xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |