 |
How To Read a
CBC … the Quickest Way
Bs Nguyễn Tài Mai
Trong những kỳ tới trên diễn đàn này tôi xin trình bày
môt. loạt bài, với tựa đề:
"Đọc máu nhanh" "How to read a CBC ...the quickest way"
Y sĩ (Duợc Sĩ, Nha Sĩ, Y Tá) hàng ngày đều phải liếc qua đếm máu toàn
diện (từ đây sẽ viết tắt DMTD) (tiếng Anh: CBC: complete blood count).
DMTD là dữ kiện về phòng thí nghiệm đầu tiên cho bất cứ b.nhân nào, và
cho ta những tin tức vô giá về b.nhân.
Trong loạt bài này, tôi xin trình kinh nghiệm đọc DMTD cuả một chuyên
viên máu hành nghề ở xứ này trong gần 25 năm qua. Kinh nghiệm này do việc
đã khám hơn 4000 consultations về máu và ung thư, cũng như kinh nghiệm
lấy và đọc tủy xương trên hai nghìn bệnh nhân ...
Tuy nhiên, kinh nghiệm này vẫn còn hạn hẹp, vì trên 95 % đều là bnhân
caucasians, nhưng ít nhất loạt bài này cũng cho một căn bản cần biết khi
đọc DMTD.
Ở cuối loạt bài này, tôi cũng xin trình bày lối lấy tủy xương "nhanh
mà không đau" do kinh nghiệm cuả riêng tôi trong thời gian qua.
Dĩ nhiên những đề tài này đều đã được viết và bàn luận rộng rãi trong
văn chương y khoa, và văn chương máu. Tuy nhiên có những điều "bí
truyền" "mánh khóe" (tricks) không ai viết ra, vì bận rộn,
hoặc vì kinh nghiệm riêng, hoặc vì khiêm tốn, không muốn làm nhàm tai
độc giả ...
Trong khi đi rounds lúc còn trong training, thì các y sĩ học viên gọi
những điều qúy báu này là "pearls" (hạt ngọc trong nghề...).
Vả lại, không thầy đố mày làm nên, những bậc tiền
bối thường có những lối rất nhanh, rất tắt, khiến họ đi đến kết luận một
cách rất nhanh chóng, hầu như một loại trực giác - intuition- (định nghiã
"trực giác": "cái biết ngay, biết thẳng, cái biết không
cần qua trung gian"). Trực giác này thường chỉ đạt được qua nhiều
kinh nghiệm. Tuy nhiên, với sự truyền đạt, các trực giác này sẽ đến nhanh
hơn, đỡ tốn thì giờ hơn cho học viên.
Hy vọng sự thành công trong loạt bài này sẽ khiến
các chuyên viên trong những ngành khác trình bày những kinh nghiệm riêng
của họ để các y sĩ đều được học hỏi ...
Xin cảm ơn và sẽ viết tiếp
Bs Nguyễn Tài Mai,
Đọc Đếm Máu Số 1
Như đã viết trước, mỗi cuối tuần, tôi sẽ viết một loạt bài về cách đọc
đếm máu (sẽ viết tắt DMTP: đếm máu toàn phần - Complete blood count -
theo tiếng English). Bài này hoàn toàn dựa theo kinh nghiệm đọc máu cuả
riêng tôi trong hơn hai mươi năm qua, trong việc làm consultant về máu
tại HKỳ.
Dĩ nhiên là đã có rất nhiều bài tham khảo về việc này trong văn chuơng
y khoa thế giới, và rất dễ nêu ra đây, nhưng tôi sẽ không nêu ra các tham
khảo vì các lý do sau:
1. Bài này có tính cách một bài nói chuyện nhàn nhã trong
khi uống trà, quần thùng áo rộng, chứ không phải trong một phòng học mặc
áo trắng, chiếu slides...
2. Tác giả bài này sẽ truyền những kinh nghiệm riêng,
kết tinh cuả nhiều năm học hỏi và hành nghề. Vào văn chương y khoa, sẽ
tìm ra các tham khảo đấy, nhưng sẽ mất rất nhiều thì giờ, vì nhưng kinh
nghiệm này được viết tản mát trong sách vở báo chí y khoa thế giới, và
lắm khi chỉ truyền miệng tại các chuơng trình dạy chuyên viên máu tại
xứ này (vì chưa ai có thì giờ viết hẳn ra).
3. Bài sẽ nhấn mạnh đến những cái "khôn ngoan"
(tricks) trong việc đọc máu khiến cho người đọc sẽ đọc máu rất nhanh,
và có hiệu quả, nhờ những điểm khôn ngoan riêng trong nghề.
.......................................
Từ đây đến cuối bài nói chuyện riêng, để nhớ ơn các giáo sư Máu:
Viết bài này, tôi không thể quên đuợc giáo sư Máu cuả tôi tại University
Hospitals, và Cleveland Metropolitan General Hospital, Cleveland, Ohio,
nơi tôi học fellowship thứ nhì về máu và ung thư (Fellowship thứ nhất
về ung thư - Medical Oncology- ở New York), dưới giáo sư John Horton,
tốt nghiệp tại đại học Sheffield, England, tác giả quyển "Cancer"
,quyển sách ung thư đầu tiên tại Hkỳ và giáo sự J. Spiers, giáo sư Máu
tại bệnh viện Hammersmith, London). GS Spiers đã giới thiệu tôi sang thụ
giáo GS Harris.
Giáo sư John Harris là một chuyên viên Máu nổi tiếng quốc gia và thế giới,
ông chuyên về tế bào máu đỏ, tác giả hang trăm bài viết, và cũng là tác
giả cuả quyển sách về máu đỏ nổi tiếng một thời: "The Red Cell:
Production, Metabolism, Destruction: Normal and Abnormal"; các
tác giả John Harris, M.D. and Robert W. Kellermeyer, M.D.
Tôi cũng đươc. thụ giáo dưới sự huớng dẫn cuả GS Kellerneyer, nhưng trong
thời gian ở Bệnh Viện đại học, trong phần máu đỏ, tôi thuờng hàng ngày
đi rounds với GS Harris hơn (còn các khóa cạnh khác cuả máu, chẳng đông
máu, đi với GS Ratnoff, tác giả quyển sách đầu tiên về đông máu tại Hkỳ:
"Disorders of Hemostasis" W.B.Saunders, 1991, 604 pp)
(nay đã có sách hay hơn: Coleman chẳng hạn, dày hơn hai nghìn trang, chuyên
về đông máu)
Sách "The Red Cell" nói trên in lần thứ nhì năm 1972
do Harvard University Press và phân phối tại England do Oxford U Press,
London. Sách dày 795 trang (GS Harris trước dạy ở Harvard, sau sang Clevelend,
Ohio), và phần tham khảo dẫn chứng hơn 1000 tài liệu . BS Harris là một
người rất khiêm nhượng, ít nói (khác hẳn các học trò !!!), và rất có kỷ
luật ... Phòng làm việc cuả ông không thấy môt tờ giấy, mặt bàn không
có một hạt bụi, trên mặt bàn chỉ độc có một cái bút chì.
Mỗi sáng đi rounds, ông thường hỏi: "What do you think?" (các
cô cậu nghĩ gì?) Và sau khi đi một quãng khá xa trong hành lang nhà thương,
chờ mọi nguời nói xong, ông mới cho ý kiến cuả ông. Ông đặc biệt lắng
nghe những nguời trẻ tuổi nhất, và thường bảo: "Tụi con nít -kids-
lắm khi nó khôn hơn mình"
Tính ông rất điềm đạm, một lần có một y sĩ thuờng trú lười (thật sự chả
ai DÁM lười ở BV đại học (mà CÓ lười thì đã không được lựa vào đây), nhưng
bận qúa, tụi tôi thường trực suốt 36 giờ không ngủ, 2 đêm ngủ, 1 đêm thức).
Cậu này không kịp vào thư viện lùng một đề tài mà
ông đã hỏi hôm trước; ông chỉ nhìn người Chief resident (về nội thuơng)
bảo: "chiều nay dẫn cậu ấy đi ăn rồi anh em vào thư viện " (ở
nơi khác thì cậu đó đã phải làm lại 3 tháng ở khu máu). (Nhà thương University
Hospitals ở Cleveland hồi đó -1984-1985- là môt. trong mười nhà thương
teaching lớn nhất Hoa Kỳ: nhà thuơng có 800 (tám trăm) giường bệnh, và
có 2400 (hai nghìn bốn trăm) bác sĩ : Riêng về các b.sĩ trong chương trình
internal Medicine: 400 residents, Viết sai, xin chưã lại:
"Riêng về các b.sĩ trong chuơng trình internal
Medicine: 400 residents, và hơn 200 fellows cho tất cả các ngành cuả toàn
thể medicine (tức là các subspecialties cuả internal medicine, surgery,
pediatrics, ObGyn, Pathology, Radiology, etc). Riêng về subspecialties
cuả medicine thì có 80 fellows, trong đó có 20 fellows về hematology-oncology
(chương trình trung bình ở các bệnh viện đại học Hkỳ lúc đó có khoảng
từ 2-6 fellows về hem-onc). Lúc đó tại Hkỳ có 135 truờng đại học y khoa,
và chỉ có 70 truờng DH y khoa lớn có chương trình fellowship về Máu và
Ung thư (có những chương trình chỉ có Máu, hoặc chỉ có Ung thư). Đến năm
1985, trong 135 trường DH ykhoa này, chỉ có 40 trường có chương tình ghép
tủy xương (cho nên có một số fellows từ các đại học y khoa nhỏ không có
kinh nghiệm gì về ghép tủy). Sự chênh lệch rất rõ: Khu ghép tủy U. Hosp
ở Cleveland lúc đó (1985) có12 giuờng, trong khi đó Dana Farber (teaching
của Harvard) chỉ có 4 giường. Nhưng từ đó trở đi, Dana Farber bắt đầu
tiến nhanh hơn Cleveland (vì Cleveland sống nhờ kỹ nghệ xe hơi và các
ngành liên hệ: cao su, thép - kỹ nghệ thép của HKỳ bắt đầu xuống dốc khoảng
1975-1980, và nay không thể cạnh tranh được với Tàu) (kỹ nghệ đóng tàu
lớn nhất thế giới cho đến năm 1980 là Nhật bản -tính theo số trọng tải
các tàu xuyên đại dương đã đóng xong- Từ 1980 trở đi, Nhật bản thua Nam
Hàn: Nam Hàn trở thành nhất thế giới về trọng tải các tàu đã đóng xong
cho năm ấy - HKỳ đứng hàng 3, sau Nhật). Boston (Harvard)(Massachusetts
Institute Technology-MIT) bắt đầu tiến nhanh hơn từ 1980 vì sự bùng nổ
cuả technology, và Boston có tiền hơn, khi có tiền thì "mua tiên
cũng được"... (bây giờ thì tuột dốc rồi, vì
Cleveland sống nhờ chế tạo thép và xe hơi, tiền cuả các corporations tặng
tuôn vào như nước - vang bóng một thời).
Nói chuyện giáo đầu đã xong, bài tới sẽ vào chuyện ...
Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên
Khoa Bệnh Máu và Ung Thư
Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài
viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |