 |
Neck and Head
Cancer
Bác sĩ Nguyễn Tài Mai
Cái gì cũng thế, không hiểu rõ từ ngữ, thì diễn dịch sẽ
sai, suy nghĩ sai, kết luận sai...cho nên trong đoạn sau đây sẽ nói thoáng
qua về từ ngữ - Vì Oncology là môt. ngành chuyên môn riêng biệt, cho nên
phải có lối nói (parlance) riêng cuả ngành, và người ngoài ngành, khi
đọc literature chuyên môn về oncology dễ bị lầm lộn:
Bài trước có nói đến Radiosensitizers (các chất làm radiation
sensitizing). Nay xin giải thích chữ "chemotherapeutic RADIOSENSITIZATION"
(hay nói tắt "radiosensitization" : "dùng chemotherapy
cùng lúc với radiation để làm cho radiation nó "sensitive" hơn,
nó "mạnh" hơn")
Ý niệm - concept- về radiosensitization dựa trên
synergism cuả chemotherapy và radiation (synnergism: sự "cọng sức"
của hai lối "đánh"- hai thằng đánh một: không chột cũng què
- ).
Có nhiều theories để giải thích tại sao có sự cọng
sức đó, nhưng nói tóm tắt: (a) khả năng của chemotherapy giết được sự
tái sinh cuả tb ung thư ngay sau khi radiation fractionation, (b) chemotherapy
"thúc đẩy " những tế bào ung thư chuyển đến giai đoạn "dễ"
bị radiation giết...(đây chỉ là những theories - cứ cái gì mà càng có
nhiều theories - ông nói gà, ba nói vịt - thì có nghĩa là chả ai biết
chắc ) (chú thích 2). Trong suốt tiến trình cuả medical oncology từ 1960
cho đến nay, sau đây là các chất đã và đang được. dùng trong nhiệm vụ
radisentizing này: CisPlatin, FU, Mitomycin, Hydroxyurea, Bleomycin và
Taxanes.
Đây là danh sách viết ra cho đủ thôi, chứ hiện nay (2008)
thì chỉ còn có 3 chất thường dùng: Cis Platinum, 5-FU và Taxanes (Taxanes
mới nhất, 5-FU thì dùng từ hồi 1976 (Lo et al: AmJnl Roentgenol 1976;
126: 229-235), Platinum khoảng 1985-1990 (Haselow et al: Head and neck
cancer, vol 2, 1990:279-281).
Dùng các chất này CÙNG MỘT LÚC với radiotherapy
(thường cho một liều nhỏ, mỗi tuần một lần, suốt thời gian trị bằng radiation)
thì gọi là CONCOMITANT chemoradiotherapỵ còn chữ CONCURRENT thì có thể
áp dụng cho cả chemotherapy lẫn radiation (chú thích 1): Khi nói Concurrent
thì có nghiã là chemotherapy có thể cho ngay trước khi, cùng lúc, hay
ngay sau khi chữa bằng radiation - tức là Concomitant chemoradiotherapy
chỉ để chỉ một lối cuả concurrent chemnoradioT mà thôi.
Khi cho chemotherapy ngay trước khi một lối chữa
trị nào khác (radiation, surgery, bone marrow transplantation) thì gọi
là INDUCTION chemotherapy (chữa cho nó "dịu" đi cái đã, chữa
"mồi chào", đánh "phủ đầu" cho nó "gục xuống"
cái đã, làm cho "gánh nặng" ung thư (tumor burden) nó nhỏ đi
để rồi sẽ đánh tiếp bằng chemotherpay hay bằng cách khác - giải phẫu chẳng
hạn ) . Nếu ung thư không thể cắt ra được nữa, mà dùng chemotherapy (sau
radiation chẳng hạn ) để "vớt vát " (kéo dài đời sống được bao
nhiêu hay bấy nhiêu) thì gọi là "SALVAGE chemotherapy".
(chú thích 1) Concurrent chemoradiation là một nhóm
chữ (nói theo kiểu mới cho nó có vẻ mình đi học theo lối mới: "cụm
từ ") có nghiã rộng hơn) (chữ "cụm từ " nó chẳng giống
ai - ghép giữa một chữ nôm -"cụm" với một chữ Hán Việt - "từ
" chữ "từ" - cũng như trong tiếng Anh: "lumpectomy"
(cắt cục vú ra) : "LUMP" là English, còn "ECTOMY"
là Greek - ektome - Tiếng Việt đã có chữ: "nhóm chữ", tại sao
phải dùng "cụm từ " cho nó có vẻ xin lỗi ..... "......."
(chú thích 2) Có khi một theory để giải thích một
vấn đề gì đó ĐẾN SAU một cách chữa (thường thì nhẩn nha, ngồi nghĩ ra
cách chữa trước, thấy coi bộ lối đó có kết quả, mới làm studies - phase
1, 2,3 , rồi mới thành cách chữa tiêu chuẩn - standard, tức là thường
thường Theory đi TRƯỚC hành động).
Trong y khoa, lắm khi lại ngược lại: chưã trị đến
TRƯỚC theory: bởi vì "truyền thống", bởi vì y khoa hồi đó còn
sơ khai, thấy nó hiệu nghiệm, cứ thế chữa, rồi sau này mới tìm cách giải
thích một cách khoa học.
Lấy thí dụ cho dễ hiểu: khi y khoa còn ở buổi sơ
khai (trước 1976), thì chữa lymphoma chỉ cho cách cho radiation và PREDNISONE.
Tại sao cho Prednisone? Chả ai biết tại sao - chỉ bởi vì
các BS xa xưa (trước 1976) trong tay chỉ có steroid; họ lấy steroid mà
chưã đủ thứ bệnh, rồi NGHIỆM thấy cục ung thư (hạch - lymphadenopathy)
nó tan nhỏ lại - rồi cứ thế mà dùng - Cho đến nay
vẫn còn dùng - trong combination CHOP: Cyclophosphamide, Hydroxydaunorubicin
(Adriamycin), Oncovin (Vincristine), Prednisone.
Nay tỉnh ngủ ra mới tìm cách giải thích tại sao steroid
nó làm cho hạch ung thư nhỏ lại, nói tơi nói lui, nói xuôi nói ngược,
bảo nó có "oncolytic effect" (hiệu ứng tan ung thư), nhưng nói
thế chỉ là để nói, nói một cách mơ hồ ...
Nói như thế vẫn khó chịu vì y khoa là một ngành thực nghiệm
(experimental), cái gì không chứng minh được thì nó vẫn có gì nhức nhối,
nó empiric (empiric: dựa theo kinh nghiệm), chứ không phải khoa học.
Cái gì mà chỉ tin tuởng mà không thấy chứng minh, thì là
tôn giáo, là đồng bóng chứ không phải khoa học. Mà y sĩ đã được dạy ngay
từ ngày đầu là phải nhận xét, phải thực nghiệm, và phải diệt trừ sự suy
nghĩ theo "ma lực".
Note:
Empiric (chữ E viết hoa - trường phái Kinh Nghiệm) để chỉ một trường phái
y khoa phát triển vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước lịch Tây, sau khi Hi pô
Crat chết . Truờng phái (school of thought) này cho rằng việc chưã trị
tốt nhất là theo kinh nghiệm (do nhận xét chứ không theo experiments).
Trong sự suy nghĩ, Y sĩ nên tránh để rơi vào cái hố "kinh
nghiệm", nên luôn luôn cảnh giác với kinh nghiệm, luôn luôn tìm kiến
thức mới cũng như phải nhìn mọi việc theo tinh thần thực nghiệm (phải
có proofs - bằng chứng).
Có nguời bảo ông bà y sĩ này có 20 năm kinh nghiệm, nói
thế nguy hiểm, vì có thể ông ta chỉ có 1 năm kinh nghiệm rồi cứ thế mài
đũng quần, nhân 1 năm kiến thức lên thành hai mươi năm, tức là kiến thức
của ông ấy đã đứng lại ở chỗ MỘT năm ...
Cho nên khi nghe thấy "kinh nghiệm" phải dè dặt,
vì kinh nghiệm phải luôn luôn đi đôi với kiến thức mới ...
Disclaimer: bài này qúy vị có thể phổ biến tự do, không
cần xin phép tác giả (Nguyễn Tài Mai), chỉ cần đề: bài do BS Nguyễn Tài
Mai, (tôi không giữ lại bản đã viết, cho nên nếu có câu hỏi xin kèm bài
này để dẫn chứng).
Việc chữa bệnh từng bệnh nhân riêng biệt dĩ nhiên hoàn toàn tùy thuộc
y sĩ điều trị, y sĩ máu, y sĩ ung thư của trường hợp đó.
Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên Khoa
Bệnh Máu và Ung Thư
Xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |